ty le bong da world cup 2018

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 19/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về ty le bong da world cup 2018

bong da 3s

Giới thiệu: Cách viết luận văn y học sức khỏe? Bất kể bạn là người tốt nghiệp hay chức danh nghề nghiệp, đương nhiên bạn cần phải viết một bài báo, và các loại giấy tờ chuyên môn khác nhau có những yêu cầu khác nhau. Giấy này được phân loại là giấy về dược phẩm và sức khỏe. Sau đây là một số biên tập dành cho mọi người. là bài văn mẫu về chăm sóc sức khỏe và y học để các bạn tham khảo.


  Phần 1: Sự cần thiết của việc thiết lập giáo dục thể chất trong các trường y tế


  [摘要]Các trường y khoa gánh vác sứ mệnh quan trọng là đào tạo các chuyên gia y tế chất lượng cao. Việc thành lập các khóa học sức khỏe thể chất trong các trường y tế không chỉ có thể thúc đẩy sinh viên đạt được mục tiêu về thể chất mà còn nâng cao kỹ năng y tế và thể thao của sinh viên, để sinh viên có thể nhận công việc trong tương lai. Cung cấp một sự đảm bảo mạnh mẽ.


  [关键词]Trường học y tế; chăm sóc sức khỏe thể thao; sự cần thiết


  [中图分类号]G712[文献标志码]MỘT[文章编号]2096-0603 (2018) 01-0096-01


Do đặc thù của các trường đại học, cao đẳng y tế nên khi tiến hành hoạt động giáo dục thể chất, các trường cao đẳng, đại học y không chỉ hoàn thành nhiệm vụ giáo dục thể chất của nhà trường, nâng cao thể lực cho sinh viên, nâng cao sức khỏe cho sinh viên mà còn phải gắn y học với thể chất. giáo dục và tập trung vào đào tạo. Các kỹ năng và phẩm chất y tế thể thao của học sinh sẽ làm phong phú thêm kiến ​​thức y học thể thao của học sinh. Vì vậy, việc đặt khoa học sức khỏe thể thao trong trường Y là vô cùng quan trọng và cần thiết.


1. Việc xây dựng cơ sở giáo dục thể chất và y tế có lợi cho việc tạo ra một sức khoẻ trước hết trong toàn trường


Không khí


Trong những năm gần đây, ngành thể thao của Trung Quốc đã có những bước phát triển vượt bậc, với sự thâm nhập và ảnh hưởng của thể thao đối với đời sống xã hội, ý thức rèn luyện thể chất của người dân cũng dần được nâng lên. Tuy nhiên, với sự gia tăng số lượng người tham gia thể dục thể thao, sự thiếu hiểu biết của người dân về một số cách chăm sóc sức khỏe thể thao đã dẫn đến tỷ lệ tai nạn thể thao ngày càng gia tăng.


Thực hiện khoa học sức khỏe thể thao trong các trường y tế không chỉ phát huy lợi thế của các trường y tế mà còn nâng cao kiến ​​thức phổ thông về sức khỏe thể thao của học sinh, có thể giảm thiểu xác suất tai nạn trong quá trình học thể dục một cách hiệu quả. Do sinh viên các trường Y đã ở trong một môi trường rộng lớn như vậy nên ít nhiều cũng có một số kiến ​​thức chung về y học, sau khi các môn thể thao và khoa học sức khỏe được thiết lập, sinh viên đã có thêm những kiến ​​thức mới trên nền tảng ban đầu. Nếu có điều gì bất ngờ xảy ra trong các hoạt động thể thao, các em học sinh sẽ không bị hụt hẫng và có thể sơ cứu đơn giản, cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho việc điều trị tiếp theo. Ngoài ra, sau khi thành lập môn thể dục, học sinh sẽ quan tâm hơn đến thể dục thể thao sau khi học các kiến ​​thức về chăm sóc sức khỏe thể chất, để tạo không khí chăm sóc sức khỏe đầu tiên trong toàn trường. Thể dục thể thao và sức khỏe thể chất bổ sung cho nhau.


2. Việc thành lập khoa học sức khỏe thể thao có lợi cho việc cải thiện kỹ năng sinh kế của sinh viên


Khoa học sức khỏe thể thao có tác động đáng kể đến việc nghiên cứu các quy luật và biện pháp chăm sóc sức khỏe trong quá trình hoạt động thể chất của con người. cùng với sự phát triển của thời gian và sự hiểu biết ngày càng sâu rộng của con người, trong quá trình tác động và thúc đẩy lẫn nhau giữa thể thao và y tế, khoa học về sức khỏe thể thao đã dần hình thành. Người tham gia thể thao dù là vận động viên danh dự, “anh hùng hậu trường” chăm sóc vận động viên hay huấn luyện viên thể thao đều cần phải có lý thuyết cơ bản vững chắc và nhận thức chung về cơ thể con người cần được chú trọng. trong các môn thể thao khác nhau. Dù trong công tác giám sát y tế liên quan đến hoạt động thể thao, sơ cứu chấn thương thể thao, đánh giá và điều trị một số chấn thương thể thao, phục hồi chức năng thể thao khi chấn thương vận động viên cần phải có kiến ​​thức cơ bản nhất định về sức khỏe thể thao. .Kiến thức và kỹ năng lý thuyết. Vì vậy, do đặc thù của nó, khoa học sức khỏe thể thao có một tương lai và triển vọng phát triển rất rộng lớn.


Hiện nay kinh tế Trung Quốc đang phát triển rất nhanh, người dân ngày càng chú ý đến sức khỏe, ý thức về thể dục của cả nước đang dần hình thành. không được quan tâm đầy đủ. Một số người mù quáng tìm kiếm sự nhanh chóng trong việc theo đuổi thể dục và muốn nhanh chóng, nhưng họ không nhận ra rằng tập luyện cường độ cao sẽ không chỉ mang lại sức khỏe mà thậm chí còn làm hỏng các kỹ năng thể chất. Huấn luyện thể thao khoa học phải nắm vững kiến ​​thức chăm sóc sức khỏe thể thao đúng đắn. Vì vậy, ở một số phòng tập quy mô lớn thường sẽ có huấn luyện viên thể hình hướng dẫn chính xác cho người tập và một số vấn đề cần lưu ý. Việc đưa giáo dục thể chất vào hoạt động giáo dục thể chất của các trường y không chỉ nâng cao thể lực cho học sinh, để các em có một vóc dáng cường tráng mà còn dạy cho các em những kiến ​​thức chuyên môn về y tế và các phương pháp sơ cấp cứu. Hai kỹ năng này không thể thiếu đối với các huấn luyện viên thể hình. . Ngoài ra, Trung Quốc không chỉ là cường quốc về thể thao mà còn là cường quốc về thể thao, đặc điểm của đào tạo thể thao hiện đại là vận động viên ngày càng tập luyện nhiều hơn và yêu cầu kỹ năng thể thao ngày càng khó hơn, điều này khiến các vận động viên dễ bị tập luyện mệt mỏi trong quá trình tập luyện. Một chút cũng có thể gây ra những chấn thương khó phục hồi cho các vận động viên. Vì vậy, thể thao phục hồi chức năng và dinh dưỡng thể thao ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong đào tạo khoa học, khiến một số chuyên gia sức khỏe thể thao rất được yêu thích trên thị trường việc làm. Tóm lại, việc xây dựng bộ môn thể dục trong hoạt động giáo dục thể chất ở các trường cao đẳng y tế không chỉ có lợi cho sức khỏe của sinh viên mà còn làm giàu thêm kiến ​​thức về chăm sóc sức khỏe thể chất, đảm bảo cho họ có việc làm trong tương lai.


3. Việc thành lập các môn thể dục, giáo dục sức khoẻ có lợi cho việc nâng cao thể chất của học sinh


Việc thiết lập giáo dục thể chất trong hoạt động giáo dục thể chất có lợi thế chuyên môn mạnh mẽ trong các trường y tế. Đối với các trường y, đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao là mục tiêu chính. Sự phát triển của khoa học sức khỏe thể thao có thể phát huy hết lợi thế tri thức của các trường cao đẳng và đại học của chính nó. Nó không chỉ có thể mở rộng kiến ​​thức của sinh viên mà còn mở rộng cấu trúc kiến ​​thức chuyên môn. Quan trọng hơn là khi sinh viên tham gia vào các hoạt động thể thao , các em có thể tập trung vào những kiến ​​thức đã học Sắp xếp việc luyện tập thể chất một cách hợp lý với thể trạng của bản thân. Ngoài ra, sinh viên cũng có thể chú ý “tu bổ, giữ gìn” thân thể trong sinh hoạt theo hướng dẫn của môn khoa học sức khỏe thể thao, loại bỏ một số bệnh khó phát hiện trên cơ thể, đạt được hiệu quả “phòng ngừa trước chúng xảy ra ”.


Việc thành lập khoa học sức khỏe thể thao trong các trường y là sự phát triển tất yếu của tiến bộ xã hội, mấu chốt là tìm ra mối quan hệ hợp lý giữa thể thao và y học, thúc đẩy sự kết hợp giữa thể thao chăm sóc sức khỏe và y học. Nếu sinh viên các trường cao đẳng y tế nắm vững kiến ​​thức này và vận dụng kiến ​​thức về thể dục thể thao phục hồi sức khỏe vào công việc thực tế thì một mặt có thể giúp người bệnh phục hồi sức khỏe, đồng thời có thể nắm vững một số kiến ​​thức về chăm sóc sức khỏe thể thao, đó là có lợi cho người bệnh.Tiếp tục duy trì trạng thái khỏe mạnh sau khi ốm. Mặt khác, sau khi phục hồi sức khỏe thông qua chăm sóc sức khỏe thể chất, người bệnh có thể nhận ra tầm quan trọng của việc tập luyện thể dục thể thao, giúp hình thành thói quen vận động tốt và nâng cao ý thức rèn luyện thân thể, từ đó thúc đẩy thể lực quốc gia và nâng cao thể chất. sự thích hợp.


  Chương 2: Thảo luận và Ứng dụng Mô hình Giảng dạy PBL trong Y học Đa khoa Khóa học Chăm sóc Sức khỏe Trẻ em


Mô hình giảng dạy truyền thống truyền thụ kiến ​​thức dựa trên “tri thức là trung tâm” đã không thể theo kịp tốc độ phát triển của y học, và phương pháp học tập dựa trên vấn đề (PBL) đã xuất hiện vào thời điểm lịch sử.Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến ở các nước phương Tây và thu được kết quả tốt[1]Nhưng nó ít được sử dụng trong y học nói chung, đặc biệt là sức khỏe cộng đồng cho trẻ em. Học tập theo định hướng vấn đề chú trọng phương pháp học theo nhóm. Học sinh tự nêu ra và phân tích vấn đề theo kế hoạch giảng dạy, đồng thời tìm tài liệu để giải quyết vấn đề nhằm đạt được hiệu quả học tập cao nhất. Nó kích thích sự tò mò của học sinh thông qua các vấn đề có thể gặp phải trong thế giới thực và cho phép học sinh giải quyết vấn đề bằng cách tham khảo sách, tạp chí định kỳ, tìm kiếm trực tuyến và thảo luận với những người khác, đồng thời tích hợp lại cấu trúc kiến ​​thức cũ và mới trong quá trình này. Sử dụng PBL lâu dài có lợi cho việc trau dồi khả năng học tập tự chủ của học sinh.


1 Mục đích của việc lựa chọn hình thức giảng dạy PBL cho các khóa học chăm sóc sức khỏe trẻ em


Sau hơn mười năm phát triển ở Trung Quốc, y học đa khoa đã hình thành một hệ thống giáo dục y học đa khoa tương đối hoàn chỉnh bao gồm giáo dục y học tổng quát cho sinh viên đại học y khoa, đào tạo chuyên gia y học tổng quát, giáo dục thường xuyên và đào tạo tại chỗ.[2]. Khoa Y đa khoa của trường chúng tôi thực hiện công tác giảng dạy Y đa khoa từ năm 2011, có nhiệm vụ đào tạo sinh viên đại học chính quy về y học lâm sàng (y học đa khoa). Trong giảng dạy y học đa khoa, “Chăm sóc sức khỏe cộng đồng” là môn học bắt buộc. Chăm sóc sức khỏe trẻ em là một trong những nội dung quan trọng. Sinh viên phải nắm vững sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng của nó, phương pháp chăm sóc trẻ sơ sinh; tính khẩu phần dinh dưỡng của trẻ và làm quen với việc bú sữa mẹ, hướng dẫn cho ăn nhân tạo; theo dõi và đánh giá sự phát triển tâm lý và hành vi của trẻ em; các phương pháp tầm soát trẻ em có thính giác và thị lực không bình thường; thời điểm phòng ngừa và điều trị sâu răng cho trẻ em và điều chỉnh các dị tật răng, tiêm chủng theo kế hoạch cho trẻ em và quy trình tiêm chủng, chống chỉ định và phản ứng tiêm chủng Chế biến, v.v. Qua 3 năm thực tế giảng dạy, tôi cảm nhận sâu sắc rằng phương pháp dạy học truyền thống dựa vào bài giảng hiện nay không đáp ứng được nhu cầu của học sinh, hiệu quả dạy học ở mức trung bình. Do đó, phương pháp dạy học PBL được thực hiện, đồng thời thực hiện phương pháp dạy học đa phương tiện và phương pháp dạy học tình huống nhằm tìm hiểu phản ứng của học sinh đối với phương pháp dạy học PBL và đánh giá tính khả thi và khả thi của việc dạy học PBL. chế độ trong giảng dạy chăm sóc sức khỏe trẻ em.


2 Việc áp dụng chế độ giảng dạy PBL trong các khóa học chăm sóc sức khỏe trẻ em


2.1 Giáo viên soạn bài Theo đặc điểm của chương trình sức khỏe trẻ em Y học đa khoa, trước khi lên lớp soạn các câu hỏi sau: ①Phương pháp ăn uống của trẻ ở các độ tuổi và nguyên tắc bổ sung thức ăn, yêu cầu của từng đối tượng học sinh để phát triển trẻ công thức cho ba bữa ăn một ngày. ② Quy trình tiêm chủng và xử lý các phản ứng có hại sau tiêm chủng, lấy việc tiêm chủng cho trẻ 8 tháng tuổi làm ví dụ. ③Đặc điểm tăng trưởng và phát triển của trẻ ở các giai đoạn tuổi khác nhau và việc chẩn đoán, điều trị các bệnh thông thường và các bệnh thường gặp, đưa ra các trường hợp còi xương để thảo luận;


2.2 Tiến trình thực hiện giảng dạy


(1) Giới thiệu câu hỏi: Sau khi xác nhận các câu hỏi thảo luận trên, cung cấp cho học sinh từ 2 đến 3 tuần trước khi diễn ra hoạt động dạy học, để học sinh có đủ thời gian thu thập và sắp xếp tài liệu.


(2) Thảo luận nhóm: Chia 7-8 người thành một nhóm nhỏ, học sinh có thể tự thành lập nhóm và chọn nhóm trưởng. Nhóm trưởng giao những “bài toán nhỏ” cụ thể cho từng thành viên trong nhóm nghiên cứu sự phân công lao động. Các thành viên trong nhóm nên tự đưa ra giải pháp cho các vấn đề của mình, tích cực thu thập và sắp xếp tài liệu, ghi chú đọc; tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và học tập trong lớp (khoảng 1 giờ), trao đổi với nhau, chia sẻ tài liệu học tập có được, và Cử một người đặc biệt ghi lại và sắp xếp toàn bộ quá trình thảo luận.


(3) Báo cáo kết quả của nhóm: Sau khi thảo luận đầy đủ, nhóm trưởng sẽ tổng hợp, tóm tắt và tổ chức thảo luận của nhóm, mỗi nhóm đưa ra một báo cáo kết quả nghiên cứu của nhóm, bao gồm quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết luận nghiên cứu. . Nội dung báo cáo có thể là kinh nghiệm học tập của nhóm, giới thiệu về quá trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Sau khi báo cáo xong phải chấp nhận câu hỏi của các thành viên khác trong nhóm và trả lời những điểm chưa hoàn hảo thì các thành viên trong nhóm mới có thể tiếp tục bổ sung. Các nhóm khác không đồng ý có thể cố gắng thuyết phục nhau bằng cách đặt câu hỏi hoặc dưới hình thức tranh luận lẫn nhau.


(4) Tổng kết và đánh giá: Sau khi thảo luận, học sinh không trực tiếp trả lời những câu hỏi mà các em còn nghi ngờ mà thể hiện cách tự đánh giá lý luận, kế hoạch và hành động của bản thân để giải quyết vấn đề, chẳng hạn như “Chúng ta nên Vẫn còn tình hình từ phía phụ huynh như thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể làm rõ nguyên nhân của vấn đề này? Bạn có đồng ý với quan điểm này không? ”và các câu hỏi khác để hướng dẫn và kích thích học sinh hiểu sâu vấn đề. Trước khi kết thúc khóa học, giáo viên sẽ tóm tắt quá trình học tập, nhận xét về tình hình hợp tác và những vấn đề tồn tại của từng nhóm, đồng thời nhấn mạnh những điểm chính và khó của cách dạy này, đồng thời phân tích các trường hợp trọng điểm của một số kiến ​​thức. điểm, nhằm khắc sâu cho học sinh hiểu sâu hơn, nắm chắc các điểm kiến ​​thức Thông hiểu, nhằm củng cố kiến ​​thức đã học và trau dồi năng lực thực hành của học sinh.


Thu được từ thực hành giảng dạy 3PBL


Thực tiễn đổi mới giảng dạy Y học đa khoa ở các trường cao đẳng, đại học đã chứng minh rằng phương pháp giảng dạy PBL được đưa vào thực tế giảng dạy và mang lại hiệu quả tốt.[3-4]. Đối với học sinh: Thứ nhất, khả năng học tập và vận dụng kiến ​​thức của học sinh ngày càng được nâng cao.Từ đầu khóa học đến khi kết thúc kỳ thi, năng lực tự nhận thức và đánh giá của học sinh có tiến bộ rõ rệt, làm tăng hứng thú học tập và khơi dậy động cơ học tập trong học sinh.[5], Qua đó gián tiếp nâng cao hiệu quả học tập và năng lực học tập. Thứ hai, khả năng sử dụng tài nguyên đã được cải thiện. Sự chuẩn bị trước khi đến lớp của học sinh (chẳng hạn như làm PPT), thảo luận và tranh luận nhóm, báo cáo trong lớp và các quá trình học tập khác thúc đẩy học sinh đọc nhiều, thu thập và phân tích thông tin, và sử dụng công nghệ mạng hiện đại để tìm kiếm thông tin, giúp nâng cao khả năng giới thiệu và tóm tắt, đồng thời làm bài tập Khả năng diễn đạt ý tưởng của học sinh trước công chúng. Thứ ba, khả năng tư duy khoa học ngày càng được nâng cao. Từ những kiến ​​thức và kinh nghiệm đã học, học cách phát hiện, hỏi, nghiên cứu và giải quyết vấn đề một cách khoa học, ví dụ khi học TPCN, học sinh không chỉ hiểu được cách tính lượng thức ăn, cung cấp năng lượng và sự tăng trưởng của trẻ. giữa sự phát triển, phân tích những hiểu lầm trong việc ăn uống của trẻ, từ đó rút ra hướng dẫn ăn uống khoa học. Giáo viên: Chúng tôi đã cập nhật những suy nghĩ và quan niệm của mình về mục tiêu giáo dục, quan điểm chương trình giảng dạy, quan điểm giảng dạy và đánh giá giáo dục. Giáo viên tổ chức, tham gia và hướng dẫn học sinh nghiên cứu và thảo luận có mục đích. Bằng cách sử dụng mô hình giáo dục theo phương pháp này, họ cần liên tục nâng cao kỹ năng giảng dạy của mình.


Chúc các bạn đọc tin ty le bong da world cup 2018 vui vẻ!

Original text