lich thi dau bong da y

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 28/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về lich thi dau bong da y

xem bong da truc tiep hom nay

1. Giới thiệu


Hệ sinh thái nguồn nhân lực (HumanResourceEcosystem) là hệ thống thông tin - năng lượng vật chất bao gồm các nhóm nguồn nhân lực và môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường kinh tế và môi trường văn hóa trong khu vực.[1].Các thuộc tính kép của con người và tự nhiên quyết định sự trao đổi vật chất và thông tin giữa môi trường tự nhiên và xã hội trong hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. phân bổ nguồn nhân lực trong hệ thống.[2].Do đó, hệ sinh thái nguồn nhân lực đáp ứng với sự điều chỉnh năng động của môi trường, có thể tối ưu hóa cơ cấu nguồn nhân lực vùng và chiến lược nhân tài, củng cố chiến lược phát triển kinh tế vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của phát triển kinh tế vùng.[3].


Hệ sinh thái nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc tìm kiếm lợi thế phát triển kinh tế khu vực và môi trường nhân tài[4]Đánh giá và phân tích cấu trúc của hệ sinh thái nguồn nhân lực, từ đó có thể giải thích hiệu quả hành vi dòng nhân lực trong doanh nghiệp và khu vực[5].Đánh giá hợp lý hiện trạng và khả năng cạnh tranh của hệ sinh thái nguồn nhân lực là nền tảng của quy hoạch hệ sinh thái bền vững.[6]. Trong thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ mười hai", Liêu Ninh sẽ bước vào một thời kỳ quan trọng của sự phát triển nhanh chóng, và nhu cầu về các nhân tài khác nhau sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, những vấn đề như tốc độ chuyển đổi nhân lực chậm, mất nhân tài, thiếu nhân tài chủ chốt và nhân tài cao cấp ở tỉnh Liêu Ninh đang là những nút thắt hạn chế sự phát triển nhảy vọt của kinh tế tỉnh Liêu Ninh.


Hiện nay, nội hàm, lợi thế và phương thức đánh giá của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn đã thu hút được sự quan tâm của các học giả, nhiều học giả đã thực hiện các nghiên cứu khám phá về cấu trúc, chức năng và tính ổn định của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hệ sinh thái nhân lực vẫn chưa hình thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, đặc biệt là thiếu các nghiên cứu định lượng về đánh giá hệ sinh thái nhân lực bằng mô hình tham số ngách. Nghiên cứu và đánh giá hệ sinh thái nhân lực vùng có thể bù đắp cho việc thiếu các mô hình đánh giá trong phát triển nhân lực vùng. Đồng thời, việc đánh giá và phân tích hệ sinh thái nguồn nhân lực khu vực ở tỉnh Liêu Ninh nhằm tìm ra những điểm nghẽn về nguồn nhân lực hạn chế sự phát triển kinh tế của tỉnh Liêu Ninh và tạo cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong khu vực. Vì vậy, việc đánh giá và đo lường cạnh tranh hệ sinh thái nguồn nhân lực có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.Khái niệm ngách sinh thái có nguồn gốc từ sinh thái Ngoài lĩnh vực sinh thái học, lý thuyết ngách đã được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội như kinh tế vùng và phát triển doanh nghiệp.[7,8]. Bài báo này giới thiệu lý thuyết ngách để nghiên cứu hệ sinh thái nguồn nhân lực đô thị, giới thiệu các thông số ngách và nghiên cứu sâu hơn hệ sinh thái nguồn nhân lực khu vực từ cả khía cạnh động và tĩnh, đồng thời mô tả mối quan hệ cạnh tranh của hệ sinh thái nguồn nhân lực giữa các thành phố ở tỉnh Liêu Ninh.


2 Nhận xét văn học


Hệ sinh thái đề cập đến các đơn vị chức năng tương tác và phụ thuộc vào nhau do dòng năng lượng giữa các sinh vật khác nhau trong khu vực[9]Do các đặc điểm chức năng của nó, lý thuyết hệ sinh thái đã được sử dụng rộng rãi trong các ngành khác. Hệ sinh thái nguồn nhân lực là sản phẩm của sự kết hợp giữa lý thuyết ngách và lý thuyết phát triển kinh doanh Theo khuôn khổ này, Moore (1993)[10]Nó giải thích quy luật luân chuyển nguồn nhân lực dưới góc độ phù hợp với thị trường ngách.


Các học giả nước ngoài đã nghiên cứu hệ sinh thái nguồn nhân lực từ hai khía cạnh tập trung vào cách các công ty phản ứng với những thay đổi của môi trường trong hệ thống. Một là quan điểm vi mô của nguồn nhân lực trong hệ thống, chẳng hạn như Ruedigermekci (2003)[5]Thông qua nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết và phân tích một cách có hệ thống các hành vi và quy luật của dòng nhân lực trong doanh nghiệp, Alibi (1999)[11]Từ quan điểm về những thay đổi trong vai trò của nguồn nhân lực, họ đã thảo luận về việc điều chỉnh chiến lược của hệ sinh thái nguồn nhân lực để ứng phó với những thay đổi của môi trường ở các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau. Thứ hai là quan điểm vĩ mô của hệ sinh thái nguồn nhân lực, Alan (2007)[12]Theo các đặc điểm của hệ sinh thái nguồn nhân lực, các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hệ sinh thái nguồn nhân lực được phân tích, và phân tích sự hạn chế của môi trường pháp lý đối với hệ sinh thái nguồn nhân lực của doanh nghiệp, Harrison (1964)[13]Trên cơ sở các yếu tố môi trường bị ảnh hưởng bởi hệ sinh thái nguồn nhân lực, họ đã phân tích cách thức hệ sinh thái nhân lực của doanh nghiệp có thể điều chỉnh và thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực.


Nghiên cứu của các học giả trong nước về hệ sinh thái nguồn nhân lực chủ yếu tập trung vào nội hàm của hệ thống và các yếu tố ảnh hưởng của hệ thống.Giáo sư Chen Tianxiang[14]Ông lần đầu tiên đưa ra khái niệm về hệ sinh thái nhân lực, cho rằng hệ sinh thái nhân lực là một hệ thống động được hình thành bởi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong đó nhân lực tồn tại và phát triển. Nghiên cứu của học giả Zhang De cho rằng môi trường kinh tế, môi trường xã hội, môi trường pháp lý,… là những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến hệ sinh thái nguồn nhân lực và có tác động sống còn đến chiến lược nguồn nhân lực.Giáo sư Yan Aimin[15-19]Ông đã có nhiều đóng góp xuất sắc trong việc nghiên cứu hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, tổng hợp các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước, đề xuất một cách có hệ thống khái niệm hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, mở rộng nội hàm của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, tìm hiểu yếu tố ngách và xây dựng hệ thống chỉ số để phân tích hệ sinh thái tài nguyên nhân văn.


Qua tổng hợp các tài liệu, có thể thấy rằng các nghiên cứu trước đây về hệ sinh thái nhân lực chủ yếu tập trung vào khái niệm và nội hàm của hệ sinh thái nhân lực, tác động đến chiến lược nhân lực của doanh nghiệp và việc xây dựng đánh giá hệ sinh thái nhân lực. hệ thống chỉ số.Chưa tạo thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Việc lượng hóa các hệ sinh thái nguồn nhân lực trong khu vực bằng cách sử dụng mô hình tham số ngách tương đối khan hiếm. Bài báo này giới thiệu lý thuyết thích hợp để nghiên cứu hệ sinh thái nhân lực đô thị, sử dụng mô hình thích hợp để tính toán và sử dụng các phương pháp phân tích thống kê như phân tích thành phần chính và phân tích cụm để phân tích hệ sinh thái nhân lực đô thị của tỉnh Liêu Ninh từ cả khía cạnh động và tĩnh Đánh giá và phân tích đặc điểm của sự cạnh tranh hệ sinh thái nguồn nhân lực giữa các thành phố ở tỉnh Liêu Ninh.


3 phương pháp nghiên cứu


3.1 Mô hình ngách


Niche là một khái niệm quan trọng và trừu tượng trong sinh thái học.Lin Yuzhen và Fu Rongshu[20]Trong sách có giải thích rằng ngách là vị trí thời gian và không gian của mỗi loài trong quần xã và mối quan hệ chức năng của chúng, ngách dùng để chỉ sự tồn tại và cạnh tranh của từng loài trong hệ sinh thái và quần xã có liên quan cụ thể với nó .Vị trí thời gian, vị trí không gian và tình trạng chức năng là những yếu tố ảnh hưởng quyết định vị trí của cá nhân trong tổ chức. Hiện nay, các học giả trong và ngoài nước đã tương đối thành thục trong việc nghiên cứu lý thuyết ngách, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đưa lý thuyết ngách vào nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực, mở ra một góc nhìn mới trong nghiên cứu về nguồn nhân lực.


Yu Shixiao và Orosi[22]Trong nghiên cứu, người ta chỉ ra rằng dù là đo lường ngách của động vật hay thực vật thì không thể bỏ qua các yếu tố tài nguyên mà loài sử dụng và các thông số của môi trường. Tương tự như mô hình siêu năng lượng đa chiều của ngách sinh học trong sinh học, các yếu tố tác động đến hệ sinh thái nguồn nhân lực được chia thành các chiều như môi trường sinh thái, tài nguyên khoa học và công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên vật chất, tài nguyên xã hội, các chiều khác nhau tạo thành Mô hình siêu năng lượng đa chiều . Nếu các yếu tố sinh thái trong hệ sinh thái tài nguyên nhân văn và ngách được định lượng bằng toán học, thì mô hình ngách siêu năng lượng n chiều của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn có thể thu được:


Trong đó, X là giá trị ngách của cá nhân trong tổ chức và xi là nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, bao gồm môi trường sinh thái, tài nguyên khoa học và công nghệ, tài nguyên vật chất, tài nguyên xã hội, tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ công và môi trường chính sách.


Hiện nay, các học giả trong và ngoài nước đã tích lũy được nhiều kết quả sẵn có bằng cách sử dụng lý thuyết ngách để đánh giá hệ sinh thái, và đã đưa thành công các thông số ngách vào đánh giá khoa học xã hội.Theo kết quả nghiên cứu hiện có[23]Đồng thời, để chuẩn hóa và so sánh các giá trị ngách của hệ sinh thái nhân lực giữa các thành phố, chúng tôi sử dụng mô hình ngách cải tiến để đo lường các giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nhân lực:


Trong đó, N là giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nhân lực riêng lẻ, X là giá trị ngách của hệ sinh thái nhân văn được xác định chung bởi n nhân tố sinh thái xi, Xmax là giá trị lớn nhất và Xmin là giá trị nhỏ nhất. Nhân tố sinh thái n chiều xi tạo thành một không gian siêu thể tích nhiều chiều có ảnh hưởng đến hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. 1, 2, 3 ... n}.


3.2 Mẫu và nguồn dữ liệu


Trong thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ mười hai", Liêu Ninh sẽ bước vào một thời kỳ phát triển nhanh chóng quan trọng, và khả năng thu hút vốn quốc tế và trong nước sẽ được tăng cường đáng kể. Ngày càng có nhiều dự án lớn hơn sẽ tập trung vào các cơ sở công nghiệp khác nhau, và nhu cầu về các các loại tài năng là sắc nét. Tuy nhiên, những vấn đề như tốc độ chuyển đổi nguồn nhân lực chậm, mất nhân tài, thiếu nhân tài chủ chốt và nhân tài cao cấp ở tỉnh Liêu Ninh là những nút thắt hạn chế sự phát triển nhảy vọt của kinh tế Liêu Ninh, và đã mở ra khoảng cách giữa Liêu Ninh và các vùng phát triển. Để tối ưu hóa hệ sinh thái tài nguyên nhân văn khu vực ở Liêu Ninh, bài báo này chọn 14 thành phố ở tỉnh Liêu Ninh làm mẫu để đánh giá hiện trạng của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn tại mỗi thành phố ở tỉnh Liêu Ninh và mô tả tác động của các yếu tố sinh thái khác nhau đối với con người trong khu vực. tài nguyên cạnh tranh hệ sinh thái.


Dữ liệu của nghiên cứu lấy từ "Niên giám thống kê tỉnh Liêu Ninh 2013"[24], Các dữ liệu không thể đánh giá trực tiếp được lượng hóa theo ý nghĩa của nó. Tất cả dữ liệu đều do tác giả nhập thủ công.


3.3 Thiết kế biến đổi


Hệ sinh thái nguồn nhân lực là một hệ sinh thái phức hợp, có đặc điểm đa chiều, ngách nguồn nhân lực dựa trên các nguồn lực có thể được sử dụng trong hệ thống và có vai trò, chức năng ở một vị trí cụ thể trong hệ sinh thái nhân lực vùng. Nguồn nhân lực có hai thuộc tính: trạng thái và động lực. “Nhà nước” dùng để chỉ sự tích tụ của quá trình phát triển trong quá khứ của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội, tài nguyên vật chất, tài nguyên khoa học và công nghệ, vốn là nền tảng của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. "Tiềm năng" là các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến hiệu quả, ảnh hưởng và tăng trưởng tài nguyên của hệ sinh thái nguồn nhân lực. Nó là tiềm năng phát triển của hệ sinh thái nguồn nhân lực và tác động của nó đối với môi trường. Nó chủ yếu bao gồm hiệu quả đô thị, năng lực giao thông đô thị, tăng trưởng tài nguyên, v.v.


Bảng 1 Hệ thống chỉ số đánh giá hệ sinh thái nguồn nhân lực


Bảng 1 Hệ thống chỉ số đánh giá hệ sinh thái nguồn nhân lực


Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết ngách, theo nguyên tắc phân chia "trạng thái" và "tiềm năng" trong ngách, đề cập đến hệ thống chỉ số đánh giá do Giáo sư Yan Aimin và nhóm của ông phát triển, theo "phương pháp phân tích nội dung" từ "Niên giám thống kê tỉnh Liêu Ninh 2013"》 Tìm kiếm dữ liệu liên quan, bước đầu chọn được 30 chỉ tiêu theo 4 khía cạnh bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, môi trường xã hội và môi trường công nghệ. Đối với việc định lượng các chỉ số biến đổi và khả năng so sánh của dữ liệu, bài viết này bỏ qua chỉ số tổng khi chọn chỉ số mà chọn chỉ số trung bình. Ví dụ, môi trường tự nhiên đô thị được đo bằng nhiệt độ trung bình hàng năm, diện tích cây xanh bình quân đầu người và số ngày chất lượng không khí đạt tiêu chuẩn, loại bỏ sai số đánh giá do sự khác biệt trong khu vực đô thị gây ra. Ngoài ra, trong nghiên cứu, các chỉ số trùng lắp đã được xử lý và loại bỏ các lỗi đánh giá do chồng chéo các chỉ số gây ra. Sau khi xử lý, thu được 24 chỉ tiêu gồm 4 chiều gồm môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, môi trường xã hội và môi trường công nghệ. Sau đó, sử dụng phần mềm spss19.0 để phân tích thành phần chính, tổng cộng 6 thành phần chính đã được trích xuất và tổng phương sai tích lũy được giải thích là 86,3%. Trên cơ sở này, 24 chỉ số được phân loại và phân tích, thu được 6 mức tiêu chí khác nhau, đó là: chỉ số thuận lợi về môi trường sinh thái, chỉ số hỗ trợ trí tuệ khoa học và công nghệ, chính sách công và chỉ số hiệu quả kinh tế, chỉ số hài lòng về thu nhập và cuộc sống, dịch vụ và an toàn. Chỉ số và chỉ số năng lực phân phối lưu lượng. Hệ thống chỉ số đánh giá được trình bày trong Bảng 1.


4 phân tích dữ liệu và kết quả


Theo nhu cầu nghiên cứu, nghiên cứu này sử dụng phần mềm phân tích SPSS19.0 để phân tích dữ liệu, các phương pháp phân tích chủ yếu bao gồm phân tích thành phần chính và phân tích cụm. Trên cơ sở phân tích thành phần chính, các thông số ngách được đưa ra để tính toán giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nguồn nhân lực ở các thành phố khác nhau dựa trên mô hình ngách.


4.1 Phương pháp phân tích


Phân tích thành phần chính. Bước đầu tiên là sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính để sàng lọc các chỉ số mức nguồn lực có ảnh hưởng đến hệ sinh thái nguồn nhân lực, trích xuất 6 thành phần chính từ 24 chỉ số, giải thích tổng phương sai tích lũy 86,3% và tổng hợp các biến thành 6 mức tiêu chí. Bước thứ hai là sử dụng mô hình ngách để giới thiệu các thông số ngách dựa trên điểm số nhân tố của phân tích thành phần chính để tính toán giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nguồn nhân lực ở các thành phố khác nhau. Kết quả đánh giá được thể hiện trong Bảng 2. Cuối cùng, theo giá trị đánh giá toàn diện được tính toán của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn, đặc trưng cho sự khác biệt của hệ sinh thái nhân lực đô thị tỉnh Liêu Ninh.


Phương pháp phân cụm có hệ thống. Sử dụng phương pháp phân cụm thứ bậc để phân tích khả năng cạnh tranh của hệ sinh thái nhân lực ở các thành phố khác nhau, các cụm có cấu trúc tương tự về hệ sinh thái nhân lực ở các thành phố cùng loại. Kết quả phân nhóm được thể hiện trong Hình 1 và Bảng 3.


Hình 1 Biểu đồ phân tích cụm thành phố Hình 1 Biểu đồ biểu đồ của các thành phố


Hình 1 Biểu đồ phân tích cụm thành phố Hình 1 Biểu đồ biểu đồ của các thành phố Tải xuống ảnh gốc


Bảng 2 Chỉ số hệ sinh thái nguồn nhân lực đô thị của tỉnh Liêu Ninh


Bảng 2 Chỉ số hệ sinh thái nguồn nhân lực đô thị của tỉnh Liêu Ninh


Bảng 3 Kết quả phân cụm thành phố


Bảng 3 Kết quả phân cụm thành phố


4.2 Phân tích kết quả


Giá trị ngách và giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nguồn nhân lực ở các đô thị loại 1 cao, tích lũy các yếu tố ngách khác nhau về “trạng thái” và “tiềm năng” tương đối cân bằng, điều này cho thấy hai thành phố này đang có sức hút và phát triển. nguồn nhân lực và xây dựng môi trường nguồn nhân lực có lợi thế cạnh tranh đáng kể và lợi thế cạnh tranh toàn diện rõ rệt. Theo Bảng 2 và Bảng 3, giá trị ngách và giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nguồn nhân lực của thành phố tỉnh lỵ Thẩm Dương và thành phố trực thuộc tỉnh Đại Liên cùng loại cao hơn đáng kể so với các thành phố khác. Thẩm Dương và Đại Liên ở môi trường sinh thái và chính sách công. Nó ở vị trí hàng đầu trong bốn khía cạnh sinh thái: hiệu quả kinh tế, thu nhập và sự hài lòng trong cuộc sống, dịch vụ và an toàn; có sự khác biệt đáng kể về khả năng cạnh tranh của môi trường sinh thái. Bảng 2 cho thấy sự khác biệt trong môi trường sinh thái của mỗi thành phố đều lớn hơn nhiều so với các thành phố khác. Theo các chỉ số, môi trường sinh thái của Thẩm Dương và Đại Liên có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ. Với sự gia tăng của thời tiết khói mù và sự suy thoái liên tục của môi trường sinh thái đô thị, sự cân nhắc của con tài nguyên về môi trường sinh thái chuyển dần từ tiêu chuẩn ngầm sang tiêu chuẩn rõ ràng, và môi trường sinh thái sẽ trở thành một yếu tố quan trọng để phân bổ nguồn nhân lực một cách tối ưu; “trạng thái” và “tiềm năng” trong phân khúc nguồn nhân lực trước hết- Bảng 2 phản ánh việc thiếu các chính sách công và hiệu quả kinh tế ở Thẩm Dương Lợi thế cạnh tranh, năng lực giao thông không đủ của Đại Liên, thu nhập kém và mức độ hài lòng trong cuộc sống, phân tích chuyên sâu cho thấy nguồn nhân lực của Thẩm Dương "tiểu bang" ngách bị hạn chế bởi tỷ lệ chi tiêu cho an sinh xã hội và việc làm, tỷ lệ thất nghiệp và nguồn nhân lực của Đại Liên "Tiềm năng" của thành phố bị hạn chế do không đủ năng lực giao thông công cộng. Đại Liên thiếu tàu điện ngầm. Trong hai năm qua tàu điện ngầm quy hoạch và xây dựng, các vấn đề thường xuyên xảy ra và các quy hoạch xây dựng thay đổi thường xuyên đã khiến giao thông đường bộ đô thị bị ảnh hưởng lớn, đồng thời, giá nhà đất cao, mặt bằng giá cao, giao thông không đủ năng lực đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. rất khác với Thẩm Dương cùng loại.


Giá trị ngách của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn của đô thị loại 2 ít có sự khác biệt, loại đô thị này chủ yếu phụ thuộc vào lợi thế về tài nguyên thiên nhiên để phát triển. so với các thành phố cùng quy mô khác, so sánh thì thấy rõ lợi thế, trong đó chủ yếu là do vai trò của nguồn nhân lực. Ví dụ, An Sơn nổi tiếng với ngành công nghiệp thép, ngành công nghiệp hóa dầu của Panjin có lợi thế rõ ràng, Benxi và Liaoyang có nguồn quặng sắt dồi dào. Tuy nhiên, trong khi phát triển các đô thị truyền thống dựa vào tài nguyên, họ đã bỏ qua việc bảo vệ môi trường sinh thái, dẫn đến môi trường sinh thái bị hủy hoại nghiêm trọng. Ban 2. Đồng thời, các yếu tố sinh thái về “trạng thái” và “hoàn cảnh” của loại đô thị này khá khác nhau và đều ở mức trung bình. chẳng hạn như thu nhập và cuộc sống. Về mức độ hài lòng, mức độ hài lòng của Panjin là cao nhất trong số các thành phố tương tự và Liêu Dương là thấp nhất, nhưng khả năng phân phối giao thông đô thị của Panjin lại ở mức thấp nhất trong số các thành phố tương tự. Trước sự chuyển đổi kinh tế, các đô thị dựa vào phát triển tài nguyên truyền thống chắc chắn sẽ đòi hỏi phải điều chỉnh, tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu công nghiệp, đây sẽ là xu hướng tất yếu để loại đô thị này đầu tư nhiều vốn và nhân lực cho nghiên cứu và phát triển. Phân tích tổng thể cho thấy, sự phát triển của hệ sinh thái nguồn nhân lực ở loại đô thị này không chênh lệch nhiều, trình độ thấp, chậm phát triển nhưng có lợi thế nhất định trong việc thu hút nguồn nhân lực R&D về công nghệ và hỗ trợ trí tuệ. loại thứ hai là về nguồn nhân lực Trong xây dựng hệ sinh thái tài nguyên, chúng ta có thể tận dụng triệt để lợi thế của “nhà nước” trong ngách, đồng thời thành lập “liên minh giới thiệu tình báo” để tạo thành lợi thế cạnh tranh kiểu tập hợp.


Giá trị ngách và giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nguồn nhân lực của loại đô thị thứ ba không đồng đều và ở mức độ tổng thể thấp. cao. Các yếu tố sinh thái “trạng thái” và “tiềm năng” trong loại hình hệ sinh thái nhân lực đô thị này không khác nhau nhiều và chúng thể hiện lợi thế cạnh tranh nhất định trên 3 khía cạnh: chính sách công và hiệu quả kinh tế, dịch vụ và an toàn, và khả năng phân bố đô thị. Tuy nhiên, khả năng chịu tải sinh thái của loại đô thị này nhìn chung còn yếu, cho thấy quá trình phát triển loại đô thị này trước đây chỉ chú trọng đến tăng trưởng GDP mà bỏ qua chất lượng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình chuyển đổi kinh tế. Theo quan niệm khoa học về phát triển, cần quan tâm đến sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường, nếu không những khuyết điểm của môi trường sinh thái sẽ hạn chế sự phát triển và xây dựng hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. , và sẽ không có cách nào để nói về lợi thế cạnh tranh.


5. Kết luận


Qua phân tích và đánh giá hệ sinh thái nhân lực đô thị tỉnh Liêu Ninh, chúng tôi nhận thấy giá trị ngách và giá trị đánh giá toàn diện của hệ sinh thái nhân lực đô thị tỉnh Liêu Ninh là khá khác nhau, và sự phân cụm đô thị là điều hiển nhiên. Giá trị ngách và giá trị đánh giá toàn diện của "trạng thái" và "tiềm năng" trong hệ sinh thái nguồn nhân lực của các thành phố cấp một là cao và lợi thế cạnh tranh là đáng kể; các thành phố dựa vào tài nguyên truyền thống có lợi thế rõ ràng trong tích lũy tài nguyên, làm nổi bật " state ”trong trạng thái của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn Yếu tố ngách hạn chế sự phát triển của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn ở các thành phố loại ba là nổi bật hơn cả. Hiện nay, có nhiều vấn đề trong quy hoạch chiến lược của hệ sinh thái nguồn nhân lực vùng: việc đơn phương theo đuổi tối đa hóa lợi ích của một vùng dẫn đến hành vi ngắn hạn và cạnh tranh luẩn quẩn. Thực chất là bỏ qua mối quan hệ sinh thái phức tạp trong hệ sinh thái tài nguyên nhân văn. Do đó, việc khai sáng lý thuyết ngách đối với quy hoạch hệ sinh thái nguồn nhân lực vùng có các khía cạnh sau:


(1) Thay thế cạnh tranh bằng hợp tác khu vực.


Sự chồng lấn ngách trong hệ sinh thái nguồn nhân lực có khả năng gây ra sự kém hiệu quả và cạnh tranh quá mức. Việc phát triển hệ sinh thái nguồn nhân lực vùng cần xem xét sự tách biệt của các ngách. Việc tách các ngách có thể phát huy lợi thế bổ sung giữa các vùng và đạt được sự phát triển khác biệt. Tuy nhiên, các khu vực có các ngách chồng chéo cũng có thể hợp tác. Toàn cầu hóa phát triển kinh tế mang lại nhiều bất ổn và cạnh tranh gia tăng, để đạt được lợi thế cạnh tranh, đồng thời tránh chồng chéo với các ngóc ngách đô thị khác, chúng ta cũng nên chủ động tìm kiếm một cộng đồng cùng lợi ích hình thành nguồn nhân lực và quy hoạch hệ sinh thái. cạnh tranh được chuyển thành việc theo đuổi hợp tác đôi bên cùng có lợi để đạt được lợi thế về quy mô.


(2) Phát huy hết lợi thế của các cụm có mối quan hệ cộng sinh.


Mối quan hệ cộng sinh giữa các thành phố có thể mang lại lợi ích về mặt chức năng cho cả hai bên, và mối quan hệ cộng sinh tương đối ổn định giữa các thành phố có thể đóng vai trò thúc đẩy năng lượng của hệ sinh thái nguồn nhân lực đang được tập hợp và củng cố. Sự phát triển của các cụm đô thị là đại diện tiêu biểu cho sự hợp tác và cộng sinh của ngách sinh thái nguồn nhân lực vùng. Ví dụ, tập hợp đô thị đồng bằng sông Dương Tử và kết tụ đô thị đồng bằng sông Châu Giang, các thành phố trong tập hợp được kết nối với nhau trong quá trình phát triển, tạo thành mối quan hệ mạng lưới cộng sinh cùng có lợi và bổ sung trong quá trình phát triển, và hệ sinh thái nguồn nhân lực khu vực có thể thể hiện khả năng cạnh tranh mạnh mẽ.


(3) Xác định ngách sinh thái và thoát khỏi những ràng buộc của những khuyết điểm của ngách sinh thái.


Theo lý thuyết ngách, các yếu tố hạn chế của ngách hạn chế sự phát triển của hệ sinh thái nguồn nhân lực. Ví dụ, yếu tố hạn chế chung của loại đô thị thứ nhất là khả năng tập hợp và phân bổ của đô thị, và yếu tố hạn chế chung của loại đô thị thứ hai là môi trường sinh thái. Việc phát triển hệ sinh thái nguồn nhân lực đô thị trước tiên cần xác định rõ các ngách sinh thái, và các lợi thế ngách hạn chế cần được tận dụng triệt để để có được lợi thế cạnh tranh. Tất nhiên, hệ sinh thái nhân lực đô thị vẫn cần khắc phục điểm nghẽn của những thiếu sót về ngách của các yếu tố hạn chế. Vì vậy, để đạt được sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nguồn nhân lực, cần phải tối ưu hóa cấu trúc ngách, phát huy lợi thế của ngách, tránh những thiếu sót của ngách.


(4) Đồng tiến hóa và phát triển cân đối.


Sự phát triển của “trạng thái” và “tiềm năng” trong hệ sinh thái nguồn nhân lực có thể thúc đẩy sự phát triển của các bộ phận khác, từ đó hình thành một vòng phát triển hệ thống lành mạnh và cuối cùng là nâng cao tiềm năng phát triển và khả năng mang của hệ sinh thái nhân lực. Sự phát triển của các môi trường tự nhiên và xã hội trong hệ sinh thái nguồn nhân lực có thể thúc đẩy sự phát triển và thúc đẩy các loại nguồn nhân lực khác nhau trong khu vực, đồng thời hiện thực hóa việc phân bổ nguồn nhân lực tối ưu. hệ thống nguồn nhân lực giúp nguồn nhân lực Sự phát triển của hệ thống ngách tài nguyên. Vì vậy, trong khi tập trung vào tích lũy tài nguyên, cũng cần nhấn mạnh sự phát triển đồng bộ của tài nguyên vật chất và môi trường sinh thái trong hệ thống, từ đó nâng cao đáng kể lợi thế cạnh tranh của hệ sinh thái tài nguyên nhân văn.


Tác giả: Shang Hua et al


Chúc các bạn đọc tin lich thi dau bong da y vui vẻ!

Original text