lich thi dau bong da vn

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 08/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về lich thi dau bong da vn

ty le keo truc tiep bong da

Tài chính chuỗi cung ứng tài trợ cho các khoản phải thu cầm cố có nghĩa là công ty của người bán lấy các khoản phải thu được tạo ra bởi hợp đồng thương mại thực tế làm cơ sở, chứng chỉ tín dụng của công ty người mua làm đảm bảo và các khoản phải thu của hợp đồng làm khoản thanh toán. Nguồn hoàn trả là tài trợ kinh doanh trong đó các khoản vay từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác nhằm mục đích thu được vốn lưu động. Tính đến cuối năm 2016, các khoản phải thu của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô được chỉ định ở nước tôi đạt 12,6 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi rủi ro nợ của doanh nghiệp tiếp tục tăng cao, việc chiếm dụng quỹ khiến quá trình tái sản xuất của các DNVVN khó khăn hơn. Vào tháng 2 năm 2016, Ngân hàng Trung ương, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia và tám bộ phận khác đã ban hành "Một số ý kiến ​​về hỗ trợ tài chính cho sự tăng trưởng ổn định của ngành, điều chỉnh cơ cấu và gia tăng lợi ích", trong đó đề cập rằng "thúc đẩy nhiều chuỗi cung ứng hơn tham gia vào nền tảng dịch vụ tài trợ các khoản phải thu ". Khuyến khích các doanh nghiệp lớn và các đơn vị mua sắm chính phủ chủ động xác nhận các khoản phải thu, hỗ trợ các nhà cung cấp SME trong việc cấp vốn và cung cấp hỗ trợ chính sách rõ ràng cho các DNVVN bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các khoản vỡ nợ phải thu; trong năm 2017" Báo cáo Công việc của Chính phủ "Đưa ra:" Nền kinh tế thực luôn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Trung Quốc, và ưu tiên trước mắt là đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và nâng cấp. " phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào các ngành công nghiệp mới nổi khác nhau. Ngày càng có nhiều đột phá lớn hơn. Tài chính chuỗi cung ứng là lựa chọn tốt nhất để phục vụ nền kinh tế thực. Nó có thể giảm bớt khó khăn và áp lực tài chính cao của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một mức độ đáng kể, nâng cao khả năng cạnh tranh của toàn bộ chuỗi cung ứng và xây dựng một ngành công nghiệp mà các ngân hàng và các doanh nghiệp cùng có lợi, đôi bên cùng có lợi và phát triển tình hữu nghị bền vững. Về mặt sinh thái, thúc đẩy quá trình cải cách bên cung. Từ quan điểm của lý thuyết trò chơi, bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về quy trình kinh doanh tài chính cầm cố tài chính chuỗi cung ứng, và trên cơ sở phân tích chi tiết các lựa chọn chiến lược, cấu trúc thông tin và lợi ích trò chơi của mỗi bên tham gia, bài viết này phản ánh các mối quan hệ chính giữa ngân hàng, doanh nghiệp cốt lõi và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bốn mô hình trò chơi của mối quan hệ được sử dụng để xem xét quá trình ra quyết định tài trợ của các công ty thành viên trong chuỗi cung ứng và đưa ra các đề xuất tương ứng. 1 Thiết lập cơ sở lý thuyết của mô hình trò chơi

Hiện nay, các nghiên cứu trong và ngoài nước về mô hình tài trợ này ngày càng sôi động. Saulnier (1943) lần đầu tiên tóm tắt sự phát triển của tài trợ các khoản phải thu ở Hoa Kỳ, nhưng không xem xét các đặc điểm của chuỗi cung ứng tại thời điểm đó. Allen N_Berger (2004) ban đầu sử dụng khái niệm tài chính chuỗi cung ứng để đề xuất tầm nhìn và khuôn khổ tài trợ cho DNVVN. Yang Shaohui (2005) đã trình bày chi tiết về nội dung dịch vụ và phương thức hoạt động của chuỗi cung ứng tài trợ các khoản phải thu và tài trợ hàng tồn kho từ quan điểm của các mô hình kinh doanh ngân hàng thương mại. Liu Li (2015) đã xác định các đặc điểm của rủi ro tín dụng đối với các khoản tài trợ phải thu trong mô hình tài trợ chuỗi cung ứng trong khi xem xét hoạt động tổng thể của chuỗi cung ứng và sử dụng phương pháp ANP để xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng.

Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu so sánh và phân tích quy trình trò chơi giữa mô hình tài trợ truyền thống và mô hình tài trợ tài chính chuỗi cung ứng sau khi gia nhập doanh nghiệp cốt lõi. Cao Wenbin và cộng sự (2013) đã đưa ra các hình phạt vỡ nợ và sử dụng lý thuyết trò chơi để giải quyết trạng thái cân bằng Nash của tài chính các khoản phải thu truyền thống và tài chính chuỗi cung ứng các khoản phải thu. Cân bằng hiệu quả Pareto cũng có thể làm giảm chi phí tài trợ của doanh nghiệp và tăng lãi suất cho vay. Zhang Lang và cộng sự (2013) đã sử dụng phương pháp phân tích của lý thuyết trò chơi tiến hóa để xây dựng mô hình trò chơi tiến hóa về hành vi tín dụng của các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp vừa và nhỏ theo mô hình tài trợ cầm cố tài khoản phải thu. vỡ nợ, xác suất DNVVN và các khoản vay gian lận chung cốt lõi và tỷ lệ phân bổ lợi ích là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của DNVVN và xác suất cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Li Zhanlei và Sun Yue (2014) đã xây dựng trò chơi Stackelberg kép giữa ngân hàng và doanh nghiệp chuỗi cung ứng, doanh nghiệp cốt lõi và doanh nghiệp vừa và nhỏ theo mô hình tài trợ cam kết phải thu với tiền đề chỉ liên quan đến sự vỡ nợ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và phân tích sự tham gia khác nhau vào tài chính chuỗi cung ứng. Lợi tức kỳ vọng của đối tượng và các yếu tố ảnh hưởng của hoạt động tài trợ được kiểm tra. Dai Jianyong và Zhang Zaixiong (2015) đã thiết lập một mô hình trò chơi ngân hàng-doanh nghiệp theo mô hình tài chính các khoản phải thu tài chính chuỗi cung ứng để nghiên cứu hành vi và đánh giá rủi ro tín dụng của từng bên tham gia, để đưa ra các đề xuất liên quan về quản lý rủi ro tín dụng theo mô hình tài trợ các khoản phải thu. Zhang Baoyin, Che Jiawei (2016) phân tích quyết định của ngân hàng trong việc cầm cố các khoản cho vay đối với các khoản phải thu từ góc độ tài chính chuỗi cung ứng. Người ta tin rằng rủi ro đến từ việc hoàn trả các khoản phải thu. Bằng cách tập trung vào khả năng sẵn sàng trả nợ của con nợ và dựa trên mối quan hệ giữa tỷ lệ trả nợ của con nợ và tỷ lệ cầm cố của các khoản phải thu của con nợ, một ma trận hoàn vốn kỳ vọng ba bên của các ngân hàng , nhà phân phối và nhà bán lẻ được thành lập.

Tóm lại, không khó để thấy rằng nghiên cứu trò chơi của từng bên tham gia tài chính chuỗi cung ứng đã thu hút sự quan tâm sâu rộng của các học giả, nhưng do các mô hình dựa trên các giả định và cơ sở khác nhau nên chúng thiếu một mức độ so sánh nhất định; thêm vào đó, Có tính đến việc thống nhất sẽ tạo điều kiện cho các nghiên cứu tiếp theo như thay đổi tham số trò chơi, tức là để thống nhất nghiên cứu tác động của thay đổi thể chế trên tất cả các khía cạnh, nhằm tăng cường giải thích mô hình trò chơi phù hợp với thực tế, bài viết này là dựa trên các nghiên cứu hiện có và cung cấp một cái nhìn tổng thể về tài chính chuỗi cung ứng. 2 Tóm tắt thực nghiệm về mối quan hệ trò chơi giữa chuỗi cung ứng các khoản tài chính phải thu 2.1 Các bên tham gia chính và lợi ích trò chơi của họ 2.1.1 Các ngân hàng

Các ngân hàng tham gia sâu vào tài chính chuỗi cung ứng. Bằng cách xem xét mức độ tín dụng của các doanh nghiệp cốt lõi và toàn bộ chuỗi cung ứng, ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng. tăng doanh thu. 2.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các DNVVN có quy mô nhỏ, thiếu vốn, nền tảng tín dụng yếu và không đủ khả năng thu nhận nguồn lực. Họ là những người tham gia tích cực vào tài chính chuỗi cung ứng. Việc nhận được nguồn tài chính từ ngân hàng thông qua việc luân chuyển các khoản phải thu có thể tái tạo tài sản doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo động lực liên tục cho sản xuất và hoạt động. 2.1.3 Doanh nghiệp cốt lõi

Các doanh nghiệp cốt lõi có quy mô lớn và thường thuộc các doanh nghiệp đầu ngành, có nền tảng tín dụng tốt và nguồn vốn hỗ trợ mạnh mẽ. Trong tình hình dư thừa công suất hiện nay, doanh nghiệp cốt lõi cắt giảm tài chính chuỗi cung ứng để có thể phát huy hết lợi thế về dòng vốn, hậu cần và thông tin, giảm chi phí của toàn bộ chuỗi cung ứng và tìm kiếm các điểm tăng trưởng lợi nhuận mới cho mình. 2.2 Lựa chọn chiến lược và cấu trúc thông tin của những người tham gia

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ tín dụng thấp và không dễ vay vốn từ ngân hàng, họ có thể nhờ các doanh nghiệp cốt lõi có bảo lãnh đối ứng để có được hạn mức cho vay cao hơn. Ở nước ngoài, các ngân hàng thường “rót vốn” cho các doanh nghiệp cốt lõi và sau đó mở rộng kinh doanh sang các doanh nghiệp vừa và nhỏ có liên quan. Tuy nhiên, theo mô hình của nước tôi hiện nay, các doanh nghiệp cốt lõi có nhiều kênh tài trợ và nguồn vốn, các ngân hàng thường thiết lập các liên kết kinh doanh với các doanh nghiệp cốt lõi thông qua các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với các công ty cốt lõi, nguồn thu nhập của họ không rõ ràng bằng các công ty tài trợ và động cơ tham gia vào các khoản tài chính phải thu là tương đối thiếu. cho sự hình thành của chuỗi cung ứng tài khoản phải thu. Nếu bảo lãnh được cung cấp, các công ty được chấp thuận không chỉ có thể được hưởng lợi ích từ việc trả chậm, mà còn đảm bảo hiệu quả sự ổn định của nguồn cung của chính họ; nhưng các công ty cốt lõi cũng cần xem xét toàn diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ví dụ, nhỏ và Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ sử dụng vốn vay để sản xuất liên tục Vẫn đầu tư rủi ro khác, nếu doanh nghiệp vừa và nhỏ vi phạm hợp đồng sẽ gây thiệt hại bao nhiêu cho lợi ích của chính họ? Sau khi doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận được bảo lãnh từ doanh nghiệp cốt lõi, ngân hàng có thể lựa chọn cho vay hoặc không cho vay. Một mặt, các ngân hàng hy vọng sẽ phát hành các khoản vay để thu lãi và các khoản thu nhập kinh doanh trung gian khác, đồng thời thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài và ổn định với các công ty trong chuỗi cung ứng. Nhưng mặt khác, có những nghi ngờ về việc liệu công ty có thể hoàn trả khoản vay đến hạn hay không. Sau khi vay vốn, nếu cả doanh nghiệp vừa và nhỏ và công ty cốt lõi tuân thủ hợp đồng, họ có thể đạt được tình thế cùng có lợi cho ngân hàng và doanh nghiệp, phát huy hết lợi thế của tài chính chuỗi cung ứng và thúc đẩy sự hợp nhất của ngành tài chính và công nghiệp; nếu một Bên vỡ nợ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi cung ứng, sự ổn định của công ty cũng sẽ bị trừng phạt bởi chuỗi cung ứng, nếu cả hai bên không tuân thủ hợp đồng, chuỗi cung ứng sẽ bị phá vỡ và sự hợp tác sẽ không bền vững. Khi đối mặt với việc công ty vi phạm hợp đồng, ngân hàng có thể thực hiện các hành động, chẳng hạn như yêu cầu công ty bảo lãnh hoàn trả và dùng đến kiện tụng hoặc có thể từ bỏ cuộc đấu tranh và không phải chịu trách nhiệm. 2.3 Mối quan hệ trò chơi chính giữa những người tham gia

Mối quan hệ trò chơi giữa các ngân hàng, doanh nghiệp cốt lõi và doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu bao gồm: (l) Trò chơi của các doanh nghiệp cốt lõi tham gia tài trợ tài chính chuỗi cung ứng. Liệu các doanh nghiệp cốt lõi có sẵn sàng cung cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay không là điều kiện cần thiết để hình thành chuỗi cung ứng tài trợ các khoản phải thu; (2) Trò chơi của các ngân hàng tham gia tài trợ tài chính chuỗi cung ứng. Việc ngân hàng cung cấp khoản thanh toán cho các DNVVN ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối cùng của việc hợp tác; (3) Trò chơi lựa chọn trả nợ giữa các DNVVN và các doanh nghiệp cốt lõi. Sau khi vay vốn, các DNVVN và doanh nghiệp cốt lõi có thể đạt được tình thế đôi bên cùng có lợi nếu họ tuân thủ hợp đồng. Việc vi phạm hợp đồng không chỉ gây thiệt hại lợi ích của nhau mà còn gây thiệt hại cho ngân hàng; (4) - trò chơi bất ngờ. Trước tình trạng doanh nghiệp vỡ nợ, nếu các ngân hàng có động thái xử lý sẽ tăng mức phạt do vỡ nợ. 3 Trò chơi hiểu biết về rủi ro tài chính của các khoản phải thu trong chuỗi cung ứng

Trong mô hình tài trợ chuỗi cung ứng, rủi ro vỡ nợ mà các ngân hàng phải đối mặt ngày càng trở nên phức tạp, tình trạng tín dụng của các doanh nghiệp cốt lõi và sự ổn định của chuỗi cung ứng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ mà các ngân hàng phải đối mặt. 3.1 Nâng cao khả năng của các doanh nghiệp cốt lõi trong việc quản lý và kiểm soát các DNVVN

So với ngân hàng, các doanh nghiệp cốt lõi hiểu rõ hơn về tình trạng sản xuất và hoạt động, hậu cần, dòng vốn và các thông tin khác của DNVVN, đồng thời hiểu sâu hơn về chu kỳ ngành và hoạt động vi mô. Bằng cách tăng cường giám sát sau khi cho vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa và nắm vững dòng chảy và sử dụng vốn vay của họ, việc hoàn thành suôn sẻ các hợp đồng mua bán có thể được đảm bảo một cách hiệu quả. 3.2 Tăng hình phạt đối với thông tin sai lệch

Trình độ tín dụng của các DNVVN càng kém thì chi phí đóng gói để có được khoản vay càng lớn. Trong thời đại dữ liệu lớn, các ngân hàng phải tăng cường trừng phạt đối với những thông tin sai lệch đồng thời sàng lọc cẩn thận các đơn xin tài trợ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bằng cách liên tục cải thiện cơ sở dữ liệu của các DNVVN, tính minh bạch thông tin có thể được tăng lên và chi phí đóng gói sẽ tiếp tục tăng. 3.3 Thiết lập một hệ thống phạt hợp lý khi vi phạm hợp đồng

Có thể thấy từ Mô hình 3, nếu mức phạt vi phạm hợp đồng đủ lớn, các doanh nghiệp cốt lõi và doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ lựa chọn tuân theo hợp đồng, thiết lập một hệ thống xử phạt hợp lý và thực hiện nó một cách hiệu quả, đó là chìa khóa để ngăn ngừa nguy cơ vi phạm hợp đồng. 3.4 Cải thiện luật và quy định liên quan để giảm chi phí kiện tụng ngân hàng

Trong trường hợp vỡ nợ, các ngân hàng cần có luật để tuân theo để tăng khả năng thu hồi khoản vay; giảm chi phí kiện tụng, ... có thể giảm chi phí điều tra của ngân hàng và tăng lợi ích.


Chúc các bạn đọc tin lich thi dau bong da vn vui vẻ!

Original text