ket qua bong da truc tuyen m7

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 08/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về ket qua bong da truc tuyen m7

ket qua bong da nam seagame 30

1. Giới thiệu lý thuyết
Dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ xuất hiện vào những năm 1980, nhấn mạnh "học bằng cách làm" và "làm mọi việc với ngôn ngữ". Nó lấy nhiệm vụ làm phương pháp tiếp cận, lấy người học làm trung tâm, thông qua một số lượng lớn đầu vào ngôn ngữ và bài tập ngôn ngữ, cũng như giao tiếp và tương tác giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh trong quá trình này, cho phép học sinh tự xây dựng Trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ, sự hiểu biết về hệ thống ngôn ngữ mục tiêu nhằm trau dồi cho học sinh khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp một cách toàn diện, khả năng tự phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng hợp tác và thương lượng.
Học tập hợp tác là một hệ thống lý thuyết và chiến lược giảng dạy xuất hiện ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1970. Nó nhấn mạnh sự tương tác giữa giáo viên-học sinh và tương tác giữa học sinh-học sinh, đồng thời khuyến khích học sinh làm việc theo nhóm để hoàn thành nhiệm vụ chung, họ nên thực hiện nhiệm vụ riêng của họ và lẫn nhau.Giao tiếp, giúp đỡ và cuối cùng là thực hiện mục tiêu học tập chung dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đồng thời nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực cá nhân. Học tập hợp tác có hiệu quả trong việc cải thiện bầu không khí tâm lý trong lớp học và cải thiện kết quả học tập của học sinh.
Mặc dù phương pháp dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ và phương pháp học tập hợp tác được hình thành trong các thời kỳ khác nhau nhưng chúng có sự tương thích và tương thích chặt chẽ. Một mặt, cả hai lý thuyết đều nhấn mạnh đến việc lấy sinh viên làm trung tâm và “học bằng cách làm”, đồng thời có cơ sở lý thuyết chung. Mặt khác, hai lý thuyết này có tính bổ sung cao. Dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ cung cấp nội dung cho việc học ngôn ngữ, nghĩa là các nhiệm vụ có ý nghĩa giúp phát huy các khả năng khác nhau của học sinh, trong khi học hợp tác cung cấp học để hoàn thành các nhiệm vụ ngôn ngữ, cụ thể là làm việc theo nhóm. . Có thể thấy, hai lý thuyết dạy học nâng cao này có tính tích hợp cao, nếu tích hợp được hai lý thuyết này sẽ bổ sung cho nhau những ưu điểm và có ý nghĩa chỉ đạo vô cùng quan trọng đối với việc giải quyết các vấn đề hiện nay trong dạy học tiếng Anh đại học.
2. Hiện trạng của việc giảng dạy tiếng Anh đại học
Bộ Giáo dục đã ban hành "Yêu cầu giảng dạy khóa học tiếng Anh đại học" vào năm 2007, chỉ ra rằng các trường đại học nên cải cách mô hình giảng dạy đơn lẻ ban đầu dựa trên sự giảng dạy của giáo viên, sử dụng đầy đủ công nghệ thông tin hiện đại và áp dụng phương pháp giảng dạy tiếng Anh trên máy tính và lớp học mới. Đưa việc dạy và học tiếng Anh phát triển theo hướng cá thể hoá, tự chủ hoá việc học. Kể từ khi ban hành "Yêu cầu giảng dạy", nhiều trường cao đẳng và đại học trong nước đã bắt đầu tích cực xây dựng các trung tâm học tiếng Anh tự trị ở đại học, đưa công nghệ đa phương tiện vào giảng dạy tiếng Anh trong lớp đại học, và liên tục thúc đẩy cải cách giảng dạy tiếng Anh ở đại học. Cho đến nay, hầu hết các trường cao đẳng và đại học đã thiết lập hình thức giảng dạy kết hợp “giảng dạy trong lớp học đa phương tiện + học tập độc lập trên mạng ngoại khóa”. Tuy nhiên, trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới, một số vấn đề mới đã dần trở nên nổi cộm.
1. Sự tham gia của học sinh vào giảng dạy trên lớp còn thấp. Trong giảng dạy trên lớp, một mặt, mặc dù giáo viên sử dụng công nghệ đa phương tiện tiên tiến để hỗ trợ giảng dạy, họ vẫn tiếp tục phương thức giảng dạy truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm và giải thích dựa trên kiến ​​thức ngôn ngữ. Những gì ban đầu được viết trên bảng đen trong giảng dạy nay được hiển thị bằng hình ảnh và âm thanh thông qua phần mềm đa phương tiện. Học sinh vẫn ở vị trí của người tiếp nhận kiến ​​thức một cách thụ động, và họ hiếm khi có cơ hội tham gia vào việc giảng dạy trên lớp và xây dựng kiến ​​thức một cách độc lập. Vì vậy, trên lớp, thầy thường nói chuyện sôi nổi trên sân khấu, học sinh ngồi nghe không hiểu gì. Mặt khác, khi giáo viên đặt câu hỏi trên lớp, do nhiều học sinh có trình độ tổ chức tiếng Anh kém và kỹ năng tư duy, phán đoán, khó hình thành câu trả lời thuần thục hơn trong thời gian suy nghĩ mà giáo viên đưa ra, nên các em thường trả lời câu hỏi bằng im lặng. Mỗi lần giáo viên phản hồi một số học sinh xuất sắc nhất định. Hầu hết học sinh chưa tham gia hiệu quả vào việc giảng dạy trên lớp.
2. Thảo luận trong lớp là "trống rỗng và sôi nổi". Để giải quyết vấn đề học sinh ít tham gia vào giảng dạy trên lớp, một số giáo viên đã thiết kế một buổi thảo luận nhóm để tăng tính tương tác giữa học sinh và tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào lớp học. Tuy nhiên, do việc lựa chọn nhiệm vụ học tập theo nhóm không phù hợp, giáo viên không hướng dẫn, giám sát sâu từng nhóm, thiếu nội quy, quy chế trong hoạt động nhóm nên không khí lớp học có vẻ sôi nổi trong các hoạt động nhóm, và học sinh đã nói và cười, nhưng hiệu quả không tốt. Các chủ đề thảo luận của sinh viên đã đi chệch khỏi các chủ đề đã được thiết lập, họ sử dụng tiếng Trung Quốc khi thảo luận và việc thiếu các bài phát biểu chất lượng cao trong các cuộc thảo luận lần lượt xuất hiện.
3. Hiệu quả của việc tự học trực tuyến chưa tốt. Nội dung và hình thức của các nhiệm vụ học tập tự chủ trực tuyến tương đối đơn lẻ, không những không có lợi cho việc kích thích sự hăng hái, chủ động học tập của học sinh mà còn có vai trò rất hạn chế trong việc phát huy năng lực học tập tự chủ, khả năng suy đoán, khả năng giao tiếp ngôn ngữ của học sinh, và khả năng đổi mới. Ngoài ra, ngay trong quá trình hoàn thành các nhiệm vụ này vẫn còn nhiều tồn tại, chẳng hạn như giáo viên chỉ chấm điểm kết quả học sinh hoàn thành bài tập định kỳ trực tuyến thay vì theo dõi, quan sát quá trình học tập tự chủ của học sinh. Việc vội vàng làm câu hỏi trước khi chấm, chép đáp án diễn ra trong từng thời điểm, ngoài ra, giáo viên chưa hướng dẫn, hỗ trợ học sinh tự chủ trong học tập một cách hiệu quả, thiếu kênh giao tiếp, trao đổi giữa học sinh với nhau, điều này làm cho một số nền tảng tiếng Anh yếu hơn Học sinh thường rơi vào tình trạng không thể hoàn thành nhiệm vụ, mất dần sự tự tin và nhiệt tình học tiếng Anh theo thời gian.
3. Việc xây dựng mô hình học tập hợp tác dựa trên nhiệm vụ
Nhằm vào các vấn đề về sự tham gia của học sinh thấp trong việc giảng dạy trên lớp và học tập tự trị trực tuyến kém phổ biến trong giảng dạy tiếng Anh ở trường đại học, các lý thuyết và định đề của việc dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ và học tập hợp tác có thể được tích hợp và mô hình học tập hợp tác dựa trên nhiệm vụ có thể được xây dựng một cách khó khăn. Các nhiệm vụ đa dạng, vừa phải có thể tối đa hóa hiệu quả học tập là những đường lối chính xuyên suốt từng giai đoạn học tập, hướng dẫn học sinh làm việc theo nhóm nhỏ và hoàn thành trách nhiệm của mình, hợp tác nhóm, đàm phán và giao tiếp và sử dụng chất lượng cao các nhiệm vụ cần đạt “làm được” “THCS” và xây dựng kiến ​​thức độc lập, đồng thời nâng cao kỹ năng hợp tác của học sinh, kỹ năng giao tiếp bằng lời, kỹ năng suy đoán,… để học sinh có thể sử dụng các nhiệm vụ có chất lượng cao nhằm đạt được mục tiêu “học bằng cách thực hiện "và xây dựng độc lập kiến ​​thức trong việc học trực tuyến và trên lớp, đồng thời nâng cao khả năng cộng tác, khả năng giao tiếp bằng lời nói, khả năng tư duy, v.v. của Học sinh.
Việc xây dựng mô hình học tập hợp tác bao gồm 3 mắt xích quan trọng sau đây.
1. Việc thiết kế các nhiệm vụ học tập hợp tác nhóm. Thiết kế nhiệm vụ là liên kết cốt lõi của mô hình học tập hợp tác dựa trên nhiệm vụ. Trong học tập hợp tác, chất lượng của nhiệm vụ quyết định hiệu quả của việc học ở một mức độ nhất định, vì vậy việc thiết kế nhiệm vụ cần thận trọng và cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
(1) Nguyên tắc về độ khó vừa phải. Theo lý thuyết giả thuyết đầu vào của nhà giáo dục ngôn ngữ Krashen (lý thuyết i + 1), trong việc học ngôn ngữ thứ hai, chỉ khi người học tiếp xúc với đầu vào ngôn ngữ thứ hai cao hơn một chút so với trình độ kỹ năng ngôn ngữ hiện có của mình, thì việc tiếp thu ngôn ngữ mới có thể xảy ra. Vì vậy, khi thiết kế các nhiệm vụ học tập hợp tác cần xem xét hết khả năng của học sinh, không nên quá đơn giản cũng như không vượt quá khả năng của học sinh, thực hiện nguyên tắc học sinh “cứ nhảy là làm được”. vào xem xét.
(2) Nguyên tắc liên tục. Trong dạy học kết hợp, học tập tự chủ trực tuyến và dạy học trên lớp không thể tách rời, vì vậy các nhiệm vụ học tập trực tuyến và các nhiệm vụ học tập trên lớp cần được lồng ghép và liên kết chặt chẽ với nhau. Dự án này dự định phân tách các nhiệm vụ học tập chính của mỗi giai đoạn học tập thành các nhiệm vụ học tập trên mạng trước lớp có liên quan với nhau, các nhiệm vụ học tập trong lớp và các nhiệm vụ học tập mạng sau giờ học, đồng thời thực hiện học tập độc lập trên mạng trước lớp và học tập trong lớp xung quanh ba nhiệm vụ phân rã này Và tự học trực tuyến sau giờ học, thực sự tích hợp giữa học trực tuyến và học trên lớp. (3) Nguyên tắc vui vẻ. Nội dung nhiệm vụ mới mẻ, thú vị và nhiều màu sắc có thể kích thích hiệu quả hứng thú học tập của học sinh và khơi dậy khát khao tri thức, thúc đẩy sự phát triển tư duy khác biệt và tư duy đổi mới của học sinh, giúp các em tham gia tích cực hơn vào các hoạt động và trải nghiệm niềm vui học tập. Và thành công. Vì vậy, vui vẻ cũng là một điểm chính của thiết kế nhiệm vụ.
(4) Nguyên tắc thứ bậc. Các nhiệm vụ không chỉ bao gồm các nhiệm vụ cấp thấp nhằm mục đích học kiến ​​thức ngôn ngữ, mà còn các nhiệm vụ cấp cao nhằm nâng cao khả năng toàn diện của học sinh, chẳng hạn như báo cáo khảo sát, nghiên cứu dự án, v.v., để học sinh có kiến ​​thức ngôn ngữ và mức độ khả năng là Phát triển toàn diện và thăng tiến.
(5) Nguyên tắc tương tác. Trong học tập hợp tác, tính tương tác của các nhiệm vụ là vô cùng quan trọng. Chỉ những nhiệm vụ tương tác mới có thể tạo ra rất nhiều cơ hội giao lưu, hợp tác giữa học sinh, giáo viên và học sinh.
2. Xây dựng hệ thống giám sát và quản lý trong học tập hợp tác.Việc học tập hợp tác được thực hiện dưới hình thức hoạt động nhóm, để đảm bảo tính trật tự của hoạt động nhóm, việc tổ chức hoạt động nhóm cần được xử lý [本文由wWw.dYLw.nEt提供,第 一论文网进行论文代写和论文发表服务,欢迎光临dYLW.neT]Các hình thức, cơ chế phân công lao động của các thành viên trong nhóm và quy tắc phân công vai trò của từng thành viên trong nhóm khi thảo luận hợp tác nhằm đảm bảo rằng trong hoạt động nhóm, mỗi thành viên trong nhóm không chỉ có sự phân công lao động hợp lý, thực hiện nhiệm vụ của họ, đồng thời có thể làm việc cùng nhau và làm việc cùng nhau; đồng thời, cần thiết lập một hệ thống giám sát để giáo viên học tập hợp tác nhóm để khuyến khích giáo viên đi sâu vào học tập hợp tác, giám sát quá trình học tập và cung cấp hướng dẫn và hỗ trợ một cách kịp thời.
3. Việc thiết lập một cơ chế đánh giá cho việc học tập hợp tác dựa trên nhiệm vụ. Một phương pháp đánh giá hợp lý và hiệu quả là động lực thúc đẩy quá trình học tập hợp tác tiếng Anh đại học dựa trên nhiệm vụ diễn ra suôn sẻ, đồng thời cũng là một cách hiệu quả để phát hiện và bù đắp kịp thời những vấn đề trong học tập. Dự án này dự định xây dựng một hệ thống đánh giá đa dạng dựa trên tự đánh giá của nhóm, đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm và đánh giá của giáo viên, và thiết lập nhiều hình thức đánh giá như cho điểm, đánh giá miệng, nhật ký tự đánh giá và phản ánh, và cuối cùng là xây dựng và cơ chế đánh giá hợp lý.
Mô hình học tập hợp tác dựa trên nhiệm vụ lấy các nhiệm vụ trong lớp và ngoài lớp chất lượng cao làm chủ đạo. Thông qua các nhiệm vụ đan xen, học tập độc lập trên mạng và học tập trong lớp được liên kết chặt chẽ, giúp nâng cao ý nghĩa và giá trị của học tập độc lập trên mạng và truyền cảm hứng học sinh Sự nhiệt tình và tự tin khi tham gia giảng dạy trong lớp học thúc đẩy sự phát triển của các hiệu quả học tập và các khả năng khác nhau của học sinh.
người giới thiệu:
  [1]Ma Hongliang. Nội dung, các yếu tố và ý nghĩa của học tập hợp tác[J]Nghiên cứu Giáo dục nước ngoài, 2003 (5).

Chúc các bạn đọc tin ket qua bong da truc tuyen m7 vui vẻ!

Original text