bong da 888.com.vn

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 06/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về bong da 888.com.vn

link xem bong da truc tiep

Trong những năm gần đây, với sự phát triển hiện đại của ngành y học hiện nay, nền y học cổ truyền Đông và Tây y kết hợp dần xuất hiện trong tầm nhìn của mọi người. Bài viết này mô tả thế nào là một bài văn mẫu liên quan đến y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc tổng hợp để bạn tham khảo.


Phần 1: Sự kết hợp giữa y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây để điều trị các bệnh tim mạch với chứng rối loạn lo âu


Yan Siyu: Bắc Kinh, Bệnh viện Fuwai, Trung tâm Quốc gia về Bệnh tim mạch, Học viện Khoa học Y tế Trung Quốc và Cao đẳng Y tế Công đoàn Bắc Kinh


Mục tiêu: Trong những năm gần đây, với việc nâng cao mức sống của người dân và sự thay đổi trong thói quen sinh hoạt, các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch ngày càng gia tăng, tỷ lệ mắc và bệnh tim mạch do thời gian điều trị lâu hơn. bệnh tái phát thường có nhiều rối loạn đồng thời, và rối loạn lo âu là một trong những bệnh phổ biến. Nhiều lương y nhận thấy trong quá trình quan sát lâm sàng và phân tích hiệu quả chữa bệnh của điều trị bệnh tim mạch với tâm lý lo lắng rằng phương pháp điều trị kết hợp đông tây y có hiệu quả hơn so với điều trị đơn lẻ bằng tây y hay y học cổ truyền. Hầu hết quan điểm này hiện đang tồn tại trong các quan sát lâm sàng hoặc đánh giá hiệu quả rải rác, và thiếu sự hỗ trợ của dữ liệu lớn và thiếu xác nhận hợp lý hơn. Nghiên cứu và thực hành lâm sàng là hữu ích và khai sáng.


Phương pháp: Thu thập và đọc một số lượng lớn các tài liệu liên quan về các bệnh tim mạch kèm theo lo âu, chọn lọc các tài liệu khoa học và tiêu biểu nhất, tóm tắt các ý tưởng điều trị cơ bản và phương pháp điều trị được công nhận hiện nay đối với các bệnh tim mạch có lo âu. Đồng thời, phân tích và so sánh sự khác biệt trong nghiên cứu giữa các nền y học khác nhau về điều trị bệnh, chỉ ra những tồn tại và thiếu sót trong nghiên cứu hiện tại và đề xuất phương án nghiên cứu mà tác giả cho là hợp lý hơn đối với những người làm công tác y tế. và các nhà nghiên cứu để tham khảo.


Kết quả: Sau khi đọc một lượng lớn tài liệu, tác giả kết luận rằng việc điều trị các bệnh tim mạch kèm theo rối loạn lo âu hiện nay thường có xu hướng kết hợp giữa phương pháp y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây. Phương pháp điều trị Chủ yếu kết hợp thuốc điều trị bệnh tim mạch và thuốc chống lo âu, tuy nhiên việc dùng phối hợp thuốc sẽ làm tăng phản ứng có hại, thậm chí hai loại thuốc sẽ ảnh hưởng lẫn nhau và giảm hiệu quả. Thứ hai, dữ liệu nghiên cứu cho thấy một phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc chậm đạt được kết quả hơn và không thể đạt được tỷ lệ hồi phục khả quan. Thứ ba, một số nghiên cứu và quan sát lâm sàng đã chỉ ra rằng những bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp kết hợp Đông y và Tây y có những ưu điểm rõ rệt về hiệu quả điều trị, điểm triệu chứng lo âu và sự hài lòng với hiệu quả chữa bệnh.


Kết luận: Sự kết hợp giữa Trung y và Tây y trong điều trị bệnh tim mạch với chứng lo âu đã cho thấy những ưu điểm lớn trong quan sát lâm sàng, rất đáng để các nhân viên y tế học hỏi. Tuy nhiên, một số quan sát lâm sàng đã cho thấy một vấn đề chung cần được giải quyết. "Nhóm điều trị Trung Quốc và Tây y kết hợp" trong phần lớn các nghiên cứu đã được thêm vào thực hành lâm sàng của điều trị bằng Y học Trung Quốc bằng cách thêm một đơn thuốc, trong khi “Nhóm chữa bệnh bằng thuốc bắc” cũng chỉ chọn một đơn thuốc để điều trị. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tính thuyết phục của bản thân nghiên cứu mà còn là sự hiểu lầm lớn về phương pháp điều trị bệnh TCM. “Phân biệt và điều trị” là nguyên lý cơ bản của y học cổ truyền Trung Quốc để chẩn đoán và điều trị bệnh, cùng một bệnh có các loại hội chứng như thiếu nhiệt, thừa nóng, việc lựa chọn thuốc và kê đơn cũng cần được sử dụng linh hoạt. . Sử dụng cùng một đơn thuốc cho tất cả các bệnh nhân là trái với quan niệm của y học cổ truyền Trung Quốc, và sự kết hợp giữa y học cổ truyền và tây y hoàn toàn không phải là sự kết hợp giữa y học cổ truyền Trung Quốc và tây y. Vì vậy, tác giả hy vọng rằng việc nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu về y học Trung Quốc trong điều trị tổng hợp của y học Trung Quốc và Tây y không cần chỉ giới hạn trong việc sử dụng đơn thuốc mà trên cơ sở phân biệt hội chứng TCM.


Chương 2: Thảo luận về các đặc điểm của tư tưởng học thuật của Trường Y Long Giang về sự kết hợp giữa y học Trung Quốc và phương Tây


Jiang Deyou, Wu Jiashu (Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc Hắc Long Giang, Cáp Nhĩ Tân 150040)


Tóm tắt: Do bối cảnh lịch sử đặc biệt của mình, Trường Y Long Giang đã hình thành một tư tưởng học thuật độc đáo, đó là tuân theo sự kết hợp của y học Trung Quốc và phương Tây và chủ trương quan niệm về y học tổng quát. Trước sự bãi bỏ của y học Trung Quốc, ông Gao Zhongshan đã đưa ra ý tưởng về khái niệm y học Trung Quốc, và tìm kiếm sự phát triển của y học Trung Quốc. Do một số thay đổi trong chính sách y học của Trung Quốc sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, các đại diện của các thầy thuốc Trung Quốc ban đầu ở khu vực Long Giang đã học Tây y bao gồm Ma Ji và Zhang Qi. Sau đó, các thầy thuốc Tây y nghiên cứu về Trung y, đại diện gồm có ông Huang Diandong và Zhang Tingdong, những người kiên quyết thực hành y học phương Tây và đi tiên phong trong đổi mới. Kết quả tuyệt vời của các bác sĩ Long Giang đã chứng minh rằng con đường hội nhập đúng đắn của y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây là sự giao thoa của y học Trung Quốc và Tây y. đường cho con cháu của Trường Y Long Giang.


Từ khóa: Trường Y khoa Long Giang; Y học phương Tây và Trung Quốc cổ truyền tổng hợp; Quan điểm y tế tổng quát; Cao Trung Sơn


Từ thời cận đại, các thầy thuốc ở Long Giang đã cống hiến hết mình cho việc học hai phương pháp của Trung Quốc và Tây Y. Ông Gao Zhongshan đã đi đầu trong việc đề xuất sự phát triển của nền y học Trung Quốc hiện đại và tuân theo các khái niệm về y học Trung Quốc. Do đó, Trường Y Long Giang đã hình thành một tư tưởng học thuật độc đáo, kết hợp giữa y học Trung Hoa và Tây Phương, chủ trương một cái nhìn tổng quát về y học, đã dẫn đầu Trường Y Long Giang cho đến ngày nay.


1 nền tảng suy nghĩ


Vào nửa sau thế kỷ 16, các nhà truyền giáo đã đưa Tây y vào nước ta, sau này các bệnh viện nhà thờ trở nên phổ biến, sự công nhận của người dân đối với Tây y dần dần. Đến cuối thời nhà Thanh, y học phương Tây đã được nhập khẩu vào Trung Quốc với quy mô lớn. Năm 1929, dưới ảnh hưởng của Phong trào ngày 4 tháng 5, một số người chủ trương bãi bỏ y học Trung Quốc, đã vấp phải sự phản kháng toàn diện của giới y học Trung Quốc. Quá khứ lịch sử khác nhau đã thúc đẩy các bác sĩ TCM nhìn lại bản thân và nhận ra tầm quan trọng của việc kết hợp y học Trung Quốc và phương Tây.Từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa, chính sách TCM đã trải qua 4 giai đoạn, từ năm 1949 đến năm 1954 thì học Tây y, từ năm 1954 đến năm 1978 thì học Tây y. Từ năm 1978 đến năm 1991, Trung ương Đảng đã thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của TCM và Tây y. Nhấn mạnh cả Trung y và Tây y ", tạo vị thế bình đẳng cho Đông y và Tây y, thúc đẩy sự phát triển của y học Trung Quốc[2].


2 Bản chất của tư tưởng


2.1 Y học phương Tây và Trung Quốc cổ truyền tổng hợp


Sự hội tụ của y học Trung Hoa và phương Tây không chỉ là học hỏi từ y học Trung Hoa và y học phương Tây.Trong thời kỳ Long Khánh của nhà Minh, khu vực Taiping của tỉnh An Huy được sử dụng để ngăn ngừa bệnh đậu mùa bằng thủy đậu ở người.[3]. Phương pháp này được mở rộng sang Nhật Bản vào năm 1652. Năm 1688, Nga đến đất nước tôi để học phương pháp này và nhanh chóng lan sang Bắc Triều Tiên, đến giữa thế kỷ 18, phương pháp thủy đậu ở người, một công nghệ phòng chống miễn dịch, đã thâm nhập vào châu Âu và Châu Á. Vào năm 1796, bác sĩ Jenner của làng người Anh đã phát minh ra bệnh đậu bò dựa trên điều này và sau đó đưa nó vào Trung Quốc, đây trở thành cách duy nhất để ngăn ngừa bệnh thủy đậu vào thời điểm đó. Từ phương pháp thủy đậu cho người đến phương pháp đậu bò, từ trong nước đến nước ngoài và sau đó đến trong nước, quá trình này là biểu hiện của sự kết hợp lẫn nhau giữa y học Trung Quốc và phương Tây. Ngày nay, sinh viên TCM cũng chú ý đến Tây y khi học những kiến ​​thức cơ bản, và nước ngoài cũng tăng dần ghi nhận về châm cứu và TCM. Tổng Bí thư Tập mạnh mẽ chủ trương coi “Vành đai và Con đường” là cơ hội để quảng bá nền y học Trung Quốc ra thế giới.


Hai bộ môn với các hệ thống khác nhau của cùng một loại, thông qua việc chuyển giao kiến ​​thức tuyệt vời, học hỏi và đổi mới, tạo thành một hệ thống mới hoàn chỉnh và toàn diện hơn. Sự hiểu biết về sự hội nhập của Trung y và Tây y chắc chắn không phải cứ mù quáng học Tây y là Trung y, hay chỉ học Trung y là Tây y. Bản chất của cái gọi là sự kết hợp giữa y học Trung Hoa và phương Tây, dù dựa trên y học Trung Hoa hay Tây y, cần phải nắm vững hai hệ thống, hấp thụ tinh hoa tuyệt vời của cả hai bên, loại bỏ những gì ngu ngốc của mình, và hình thành một nền khoa học và hiện đại. Khái niệm y học Trung Quốc.


2.2 Quan điểm y tế lớn


Gao Zhongshan, Minglun, từ Zhongshan, là người đầu tiên trong "Bốn bác sĩ nổi tiếng" ở tỉnh Hắc Long Giang, tiên phong cho Trường Y Long Giang và đề xuất Khái niệm Y học Trung Quốc. Ông là tổng biên tập của "Hàng tháng của Tạp chí Hiệp hội Nghiên cứu Y học Trung Quốc Cáp Nhĩ Tân (sau đổi tên thành tạp chí "Tỉnh Binjiang" Trung Quốc Y học hàng tháng), tác giả của "Han Yao Wan San Gao Liquor Standard Edition", "Phụ khoa", v.v. Vì tôi sinh ra trong nền y học Trung Quốc, tôi đã làm theo phương pháp mà Mao Chủ tịch đã đề cập và chỉ ra rằng Trung y, với tư cách là một nền văn hóa cổ đại đặc sắc của Trung Quốc, cần phải “nghiêm khắc kế thừa, tiếp thu và kế thừa tinh hoa của nó, phê bình và loại bỏ những thứ ngu xuẩn của Trung Quốc. y học phải khoa học, không bao giờ trồng thuốc Đông y kiểu cũ mới bằng phương pháp cũ, phương pháp cũ "[4]. Cao Trung Sơn đã đưa ra rõ ràng năm quan điểm trên tạp chí hàng tháng của Hiệp hội Nghiên cứu Trung học Cáp Nhĩ Tân về phương hướng và các bước thực hiện cụ thể của quá trình khoa học hóa y học Trung Quốc: Thứ nhất, những người làm cho các học thuyết cố hữu có hiệu quả và lý thuyết phù hợp với các nguyên tắc khoa học nên sử dụng phương pháp khoa học. để giải thích chúng.; Thứ hai, những người có kết quả thực tế nhưng lý thuyết không phù hợp với nguyên tắc khoa học thì dùng phương pháp khoa học để chứng minh; thứ ba, những người không có kết quả thực tế nhưng lý thuyết không phù hợp với nguyên tắc khoa học thì loại bỏ họ. Thứ năm, tất cả các phương pháp của y học Trung Quốc được bảo tồn cho những gì mà y học phương Tây không có. như để tổ chức và cải thiện Trung Quốc. Khoa học y tế là một công việc kinh doanh suốt đời, vì vậy chúng ta phải làm việc cùng nhau và thực hiện tinh thần để thu thập và nâng cao hiệu quả thực tế. " Và đề xuất thêm rằng có hai yêu cầu để cải tiến y học Trung Quốc: một là yêu cầu hội nhập lý luận Trung y với y học thế giới, hai là yêu cầu chiết xuất trong phòng thí nghiệm Trung y để dễ dàng thực hiện. Ông sử dụng các phương pháp khoa học để tổ chức y học Trung Quốc và mong muốn thực hiện khoa học hóa y học Trung Quốc. Thông qua việc phân tích kỹ lưỡng những đặc điểm của nền y học cổ truyền Trung Quốc và tư duy sâu sắc về sự phát triển của nền y học cổ truyền Trung Quốc, ông gắn bó với vị trí của y học cổ truyền Trung Quốc và tích cực tiếp thu kiến ​​thức của tây y để tìm kiếm sự phát triển của y học Trung Quốc đồng thời, ông chủ trương hình thành hai bộ thói quen tư duy độc lập của Trung y và Tây y. Dưới sự lãnh đạo của Gao Zhongshan, Trường Y Long Giang đã đạt được những kết quả ấn tượng trong việc tuân thủ Khái niệm Y học Trung Quốc.


3 Phát triển bác sĩ


3.1 Thực hiện sự tham gia của Trung Quốc và phương Tây, hợp nhất vốn và đổi mới


3.1.1 Ma Ji Ma Ji học tại Cao đẳng Y tế Cáp Nhĩ Tân (tiền thân của Đại học Y Cáp Nhĩ Tân) vào đầu năm 1936, và nghiên cứu giải phẫu, sinh lý, bệnh học, vi sinh, dược lý, bệnh truyền nhiễm và y học phương tây một cách có hệ thống. và phụ nữ và trẻ em bên ngoài. Trong hành nghề y sau này, ông luôn lấy hệ thống lý luận và phương thức tư duy của Trung y làm chủ đạo, đồng thời tiếp thu nội dung của Tây y để tổ chức phát triển các kỹ thuật và ứng dụng của Trung y. Đồng thời, sử dụng các công cụ và thiết bị khoa học hiện đại để tiến hành các bằng chứng thực nghiệm khoa học khách quan, tận dụng lợi thế của y học phương Tây và Trung Quốc, chủ trương kết hợp giữa phân biệt bệnh và phân biệt hội chứng, phân tích toàn diện từ khái niệm tổng thể để đạt được mục đích sự đối xử.


Về lý thuyết, Ma Ji không bao giờ loại trừ người nước ngoài một cách mù quáng. kinh nghiệm đã đạt được. Ở phòng khám, chẩn đoán rất tỉ mỉ, bốn phương kết hợp với quan sát, nghe, hỏi và hội chẩn, và các phương pháp khám bệnh hiện đại được sử dụng làm phụ trợ. Trong nghiên cứu khoa học hết sức coi trọng việc hiện đại hóa nền y học Trung Quốc. Người ta tin rằng "để hiện đại hóa nền y học Trung Quốc, chúng ta cần phải học hỏi từ các khoa học tự nhiên hiện đại khác nhau, bao gồm cả y học phương Tây, để đạt được những thành tựu mới. Tuy nhiên, chúng ta phải bắt đầu từ những đặc điểm của y học Trung Quốc và đi sâu khám phá những thành tựu đã đạt được"[5]. Ma Ji đã nhập vào máy tính hơn 50 năm kinh nghiệm khám chữa bệnh đau thượng vị. Công trình "Nghiên cứu thực hành về bệnh viêm bể thận ở chuột và cách điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc" mà ông và nhóm nghiên cứu khoa học cùng hoàn thành đã đoạt giải nhì Giải thưởng Tiến bộ Nghiên cứu Khoa học tỉnh Hắc Long Giang năm 1992.


Mã Nghiên cùng thời với Cao Trung Sơn, càng hiểu sâu về sự dung hợp của Trung y và Tây y, ông làm gương, tập hợp Trung y và Tây y, coi Trung y và ngoại lai nên dần dần hình thành quan điểm y học. về sự hội nhập của y học Trung Quốc và phương Tây. Trong hoàn cảnh khó khăn của sự phát triển của nền y học Trung Quốc trước và sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ông đã nắm bắt được xu hướng của thời đại và đóng góp toàn bộ sức lực của mình vào sự nghiệp hiện đại hóa nền y học Trung Quốc.


3.1.2 Zhang Qi Zhang Qi đã tham gia "Hội thảo Y học Trung Quốc Cáp Nhĩ Tân" do Gao Zhongshan thành lập vào năm 1941, và học được sự khác biệt giữa giải phẫu, sinh lý, bệnh lý và các lý thuyết của y học phương Tây thông qua việc học tập. Ông chủ trương “đổi mới ở giữa”, tức là nhấn mạnh rằng phải lấy nguyên lý cơ bản, khái niệm cơ bản và kỹ thuật cơ bản của y học cổ truyền Trung Quốc làm gốc, sau đó cần thảo luận “đổi mới” trên cơ sở kế thừa đầy đủ. Ông đã chỉ ra sự cần thiết phải phân biệt mối quan hệ giữa chủ và nô đối với sự hội nhập của y học Trung Quốc và phương Tây, y học Trung Quốc là chính và y học phương Tây nên làm theo.


Về lý thuyết, mặc dù Zhang Qi ủng hộ sự hợp nhất của y học Trung Quốc và phương Tây, ông cũng nhận thức được những hiểu lầm phổ biến, và không nên áp dụng lý thuyết Tây y một cách mù quáng vào các lý thuyết y học Trung Quốc. Năm 1964, ông viết "Bàn luận ngắn gọn về nghiên cứu mạch", trong đó trình bày chi tiết về các vấn đề liên quan trong nghiên cứu mạch và tiết lộ rằng nền tảng của nghiên cứu mạch vẫn nằm trong các lý thuyết cơ bản của y học cổ truyền Trung Quốc, mặc dù nó tương tự như nội dung tim mạch của Tây y, không thể nói chung chung được. Tại phòng khám, ông nhận ra thế mạnh tương ứng của Trung y và Tây y, trên cơ sở phân biệt bệnh TCM, ông cũng sử dụng phương pháp chụp CT, siêu âm B và xét nghiệm sinh hóa của Tây y. Ví dụ, bệnh nhân viêm thận không có triệu chứng gì khác nhưng protein trong nước tiểu vẫn còn, bệnh nhân tiểu đường đã biến mất nhưng lượng đường trong máu và đường trong nước tiểu vẫn cao. phép biện chứng. Mặt khác, anh nhấn mạnh đến phương pháp điều trị bằng Đông y là chính và bổ sung bằng thuốc tây. Ví dụ, kích thích tố vỏ thượng thận cho bệnh viêm thận mãn tính và y học cổ truyền Trung Quốc để thanh nhiệt và ẩm ướt hoặc tăng cường sinh lực cho thận và lá lách, bệnh tiểu đường, xơ gan, thiếu máu bất sản, bệnh tim mạch và collagen và các loại thuốc Trung Quốc và phương Tây khác có tác dụng đáng kể. Trong nghiên cứu khoa học, ông đã tạo ra một ý tưởng mới trong việc kết hợp y học Trung Quốc và phương Tây để điều trị bệnh viêm thận mãn tính. Năm 1962, ông hợp tác với Shan Cuihua về nghiên cứu, năm 1981, công trình này được trao giải nhì Thành tựu nghiên cứu khoa học hệ thống y tế tỉnh Hắc Long Giang, năm 1986, nó được Khoa học Quốc gia và công nhận là "Kế hoạch 5 năm lần thứ 7". Ủy ban Công nghệ và Bộ Y tế.[6].


Zhang Qi là một trong những bậc thầy đầu tiên về y học cổ truyền Trung Quốc, và ông đã cùng với Ma Ji, Gao Zhongshan và nhiều người khác tham gia vào làn sóng thay đổi của y học cổ truyền Trung Quốc trước và sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và góp phần vào phát triển y học cổ truyền Trung Quốc. Ông nhấn mạnh đến việc kết hợp giữa y học Trung Quốc và phương Tây trong lý thuyết, phòng khám và nghiên cứu khoa học, nhưng ông nhiều lần nhấn mạnh cần phải phân biệt tình trạng lấy y học Trung Quốc làm chủ đạo.


3.2 Triển khai nhân sâm Trung Quốc và tạo ra những đổi mới


3.2.1 Huang Diandong Huang Diandong tốt nghiệp trường Cao đẳng Quân y Cáp Nhĩ Tân năm 1944, và liên tiếp đảm nhiệm chức vụ giám đốc phẫu thuật tại Bệnh viện hậu phương Quân khu Đông Bắc của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, giám đốc phẫu thuật tại Bệnh viện trực thuộc Cáp Nhĩ Tân Đại học Y, và là Giám đốc Khoa Chỉnh hình và Chấn thương của Đại học Y học Cổ truyền Trung Quốc Hắc Long Giang. Tác giả của "Kiểm tra lâm sàng chỉnh hình", "Cố định bên ngoài", "Đau lưng", "Y học cổ truyền Trung Quốc và chấn thương" (sách xuất bản lần thứ tư của Trường Trung học Y học Cổ truyền Trung Quốc), và đã xuất bản hơn 120 bài báo. điều trị sớm các bệnh lý chấn thương chỉnh hình bằng phương pháp y học cổ truyền phương Tây và Đông y kết hợp. Một trong những đơn vị tiên phong.


Dù có nhiều giấy nhưng Huang Diandong không đọc được vì thời gian dài. Trong 5 năm 1983, 1986, 1988, 1989 và 1990, nhiều bài báo của ông đã đạt giải nhì và giải ba Thành tựu Khoa học và Công nghệ tỉnh Hắc Long Giang, giải nhì và ba Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Hắc Long Giang. Bài báo "Trật khớp bằng huyệt vị" đã giải quyết được vấn đề nan giải còn sót lại của lịch sử y học Trung Quốc và phương Tây. Có rất ít hành động được lan truyền, nhưng có thể nhìn thấy một hoặc hai trong các tác phẩm của y học phương tây tổng hợp. Huang Diandong xuất thân từ trường Cao đẳng Y tế Phương Tây, chịu ảnh hưởng của tinh thần khoa học và nghiêm túc của Tây Y. Anh ấy đã nghiên cứu nhiều hơn về lâm sàng. y học và y học Trung Quốc trong điều trị chỉnh hình. Kết hợp kỹ thuật nắn xương cổ truyền với phương pháp điều trị tây y đã hình thành ý tưởng điều trị độc đáo kết hợp giữa bảo tồn và phẫu thuật, dùng thuốc và không dùng thuốc, Đông y và Tây y, mang lại hiệu quả rõ rệt trên lâm sàng.Trước phương pháp điều trị bảo tồn và khó cải thiện của Tây y, ông đã chăm chỉ tìm hiểu phương pháp xông, rửa của y học cổ truyền Trung Quốc để chữa trị các vết thương ở xương, chẳng hạn như chữa đau gót chân bằng “thuốc bôi Trung Y” và giấm.[7], Bôi kem dưỡng da chỉnh hình để điều trị viêm gân trên sụn vôi hóa[8]Đợi đã. Ông đã liên tiếp giữ chức giám đốc, giáo sư và trợ giảng nghiên cứu của Khoa chỉnh hình và chấn thương thuộc Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc Hắc Long Giang. Deng Fushu, Zhang Xiaofeng và các bác sĩ chỉnh hình khác ở Long Giang đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ông.


Là một bác sĩ tây y, ông đã nghiên cứu rộng rãi y học cổ truyền Trung Quốc như một phương pháp điều trị bổ trợ và sử dụng nó trong phòng khám. y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây. Ông cũng không ngừng tự học hỏi kinh nghiệm của bản thân một cách nghiêm túc và trau dồi cho một lứa tài năng về chấn thương chỉnh hình kết hợp với y học phương Tây và Trung Quốc.


3.2.2 Zhang Tingdong Zhang Tingdong tốt nghiệp Đại học Y khoa Cáp Nhĩ Tân năm 1950, sau đó ông tham gia lớp đào tạo về y học phương tây và dấn thân vào con đường tổng hợp y học phương Tây và Trung Quốc.[9].Ông hiện là giám đốc và là giáo sư của Bộ phận Nghiên cứu và Giảng dạy Y học Trung Quốc của Bệnh viện Trực thuộc số 1 của Đại học Y Cáp Nhĩ Tân. Ông là người sáng lập ra việc sử dụng arsenic trioxide là thạch tín để điều trị bệnh bạch cầu. sách.[10].


Xử lý thạch tín có nguồn gốc lịch sử ở Trung Quốc và phương Tây, nhưng nó đã không được công chúng chấp nhận. Năm 1971, Han Taiyun phát hiện ra một đơn thuốc dân gian kết hợp thạch tín, bột nhẹ, nọc độc của cóc và các loại thuốc khác để điều trị bệnh lao bạch huyết và ung thư. Năm 1972, ông hợp tác với Zhang Tingdong trong nghiên cứu, và sau khi thử nghiệm thực nghiệm, người ta thấy rằng toàn bộ đơn thuốc Zhongpishuang là thành phần hữu hiệu. Zhang Tingdong tập trung vào việc điều trị bệnh bạch cầu, và sự kết hợp của cả hai đã đặt nền móng cho việc điều trị bệnh bạch cầu bằng thạch tín của ông. Năm 1979, ông đã chỉ ra rõ ràng trong điều trị 55 ca bệnh bạch cầu nguyên bào cấp tính, tổng tỷ lệ thuyên giảm đạt 70% thông qua các phương pháp điều trị khác nhau kết hợp với tiêm Ai Ling số 1, trong đó có 12 ca khỏi hẳn.[11].Zhang Tingdong đã giành được giải nhì Giải thưởng Khoa học Tự nhiên Quốc gia, Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệ DuPont, Giải Vàng Eureka Thế giới, Giải thưởng Sáng chế Xuất sắc Trung Quốc, v.v.[10]Năm 2011, anh và Youyou Tu đã giành được Giải thưởng Thành tựu Xuất sắc về Khoa học Đời sống từ Trung tâm R&D Trung Quốc GlaxoSmithKline (GSK)[12], Giành giải thưởng Nhà khoa học xuất sắc của Qiushi năm 2015[13]Trong cùng năm, ông và Viện sĩ Chen Zhu đã giành được Giải thưởng Phát triển Y học Cổ truyền Trung Quốc lần thứ 6 của nhà Đường[14].Đằng sau hàng loạt danh hiệu, Zhang Tingdong vẫn đơn giản tuân theo con đường kết hợp giữa y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây, và chỉ rõ rằng trên cơ sở chẩn đoán kép, việc xây dựng một sự kết hợp phù hợp giữa y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây là điều không thể chê trách. đối với các điều kiện cụ thể của bệnh nhân.[15].


Zhang Tingdong can đảm sáng tạo ra những phương pháp nghiên cứu mới, đã cống hiến hết mình cho nghiên cứu và lâm sàng trong nhiều năm, kết hợp với những ưu điểm của y học phương Tây và Trung Quốc, và đã có những đóng góp xuất sắc cho nền y học thế giới.


3.3 Kết luận


Các bác sĩ tích hợp xuất sắc của Trường Y Long Giang bao gồm Wang Chunlai, Yu Caisheng, Wang Gang, Xu Qiying, Zhang Shugang, Liu Yuanzhang, Nie Yunsheng, Zheng Yuqing, Wang Demin, Jia Baoshan, Bao Fuzhu, Gai Shichang, Wang Yumei, Deng Zhenpeng, v.v ... Họ dựa vào kinh nghiệm của bản thân để chứng minh Con đường hội nhập của y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây nên nghiên cứu hai chiều giữa y học cổ truyền Trung Quốc và y học phương Tây. Cho dù thông qua việc giáo dục tích hợp y học cổ truyền Trung Quốc và tây y ở trường trung học cơ sở, tây y hay giai đoạn sau, các thầy thuốc Long Giang luôn tuân thủ sự kết hợp của y học cổ truyền Trung Quốc và phương tây, ủng hộ khái niệm y học tổng quát và tiếp tục đóng góp cho nền y học hiện đại. ngành công nghiệp.


Chương 3: Điều tra hiện trạng phát triển tổng hợp đông tây y tại các bệnh viện bệnh truyền nhiễm ở nước tôi


Zhang Jing 1 Li Jing 1 Wang Chaohui 2 Wu Wei 2 Wang Mingmin 2


1 Đại học Qingdao, Qingdao, 266003; 2 Qingdao Sixth People's Hospital, Qingdao, 266003


Mục tiêu tóm tắt: Tìm hiểu hiện trạng của nền y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây kết hợp trong các bệnh viện bệnh truyền nhiễm ở nước tôi, đồng thời đưa ra các ý tưởng và chiến lược đối phó cho sự phát triển của nó. Phương pháp: Sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi, tìm hiểu quy mô xây dựng và tình hình giường bệnh, cấu hình trang thiết bị, tình hình dịch vụ y tế và y tế, tình hình nhân sự, tình hình học tập và nghiên cứu khoa học của y học cổ truyền đông tây y tổng hợp. Kết quả: 90% bệnh viện bệnh truyền nhiễm có kết hợp Đông y và Tây y, số giường bệnh của các chuyên khoa chiếm 10,9% tổng số giường bệnh của bệnh viện, bình quân 36 người, hầu hết là 30-40 tuổi và 20-30 tuổi. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh tập trung ở bệnh gan, AIDS và lao, 88,9% chuyên ngành cho rằng nguồn bệnh nhân khan hiếm, 70,4% chuyên ngành cần tự gây quỹ nghiên cứu khoa học. Kết luận: Các bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm có tỷ lệ chuyên môn cao về kết hợp y học cổ truyền phương Tây và Đông y tương đối cao, nhưng nhìn chung vẫn gặp phải những vấn đề như chênh lệch về sức mạnh, thiếu nguồn bệnh, phạm vi chẩn đoán và điều trị hẹp, thiếu nhân tài, bố trí cơ sở không hợp lý. và không đủ kinh phí nghiên cứu khoa học. Cần cấp bách đầu tư của Chính phủ và sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện.


Từ khóa: quản lý bệnh viện; bệnh viện bệnh truyền nhiễm; chuyên khoa tổng hợp đông tây y


Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống y tế công cộng của đất nước tôi, các bệnh viện bệnh truyền nhiễm chịu trách nhiệm phòng ngừa và điều trị các bệnh truyền nhiễm khác nhau, cũng như hỗ trợ các bộ phận quốc gia có liên quan trong việc phát hiện xu hướng dịch bệnh của các bệnh truyền nhiễm và điều trị y tế khẩn cấp kịp thời.[1].Trong 30 năm qua, chuyên ngành Y học Tích hợp đã kết hợp tư duy y học cổ truyền Trung Hoa của nước ta với công nghệ y dược hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh truyền nhiễm. và sức sống[2]. Bài báo này phân tích thực trạng phát triển và các vấn đề tồn tại của y học cổ truyền phương Tây và y học cổ truyền tổng hợp tại các bệnh viện bệnh truyền nhiễm ở nước tôi, đồng thời khám phá các chiến lược để thúc đẩy sự phát triển của nó.


1 Nguồn dữ liệu và phương pháp


1.1 Nguồn thông tin


Ba mươi bệnh viện bệnh truyền nhiễm được chọn ngẫu nhiên làm bệnh viện mẫu từ các đơn vị thành viên của Ủy ban chuyên môn về bệnh truyền nhiễm của Hiệp hội Y học Tích hợp Trung Quốc, và bảng câu hỏi đã được phát hành.


1.2 Phương pháp khảo sát


Bằng việc tham khảo một số lượng lớn các tài liệu, tư liệu có liên quan, phù hợp với yêu cầu của “Tiêu chuẩn xây dựng bệnh viện truyền nhiễm”, bộ câu hỏi đã tự thiết kế và hình thành bản thảo đầu tiên. Nội dung khảo sát chủ yếu bao gồm quy mô xây dựng và giường bệnh, cấu hình trang thiết bị, dịch vụ y tế và sức khỏe, nhân sự, học thuật và nghiên cứu khoa học, đào tạo và giáo dục thường xuyên, v.v. Một số sửa đổi đã được thực hiện dựa trên ý kiến ​​của các chuyên gia và bản thảo cuối cùng đã được hoàn thiện.


1.3 Phương pháp thống kê


Đối với dữ liệu đã thu thập, hãy sử dụng phần mềm đầu vào EpiData3.1 để thiết lập cơ sở dữ liệu, kiểm tra kỹ đầu vào và sử dụng phần mềm Excel2007 để phân tích thống kê dữ liệu, chủ yếu là phân tích thống kê mô tả.


2 kết quả


2.1 Thực trạng cơ bản về đối tượng khảo sát


30 bệnh viện bệnh truyền nhiễm trong cuộc khảo sát mẫu này liên quan đến Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu, Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Hà Nam, Hà Bắc, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Thiểm Tây, Vân Nam và các khu vực khác. Trong đó, có 23 bệnh viện tuyến 3 và 7 bệnh viện tuyến 2. 27 bệnh viện thành lập chuyên khoa tổng hợp đông y và tây y, tỷ lệ thành lập là 90%.


2.2 Quy mô xây dựng và tình hình giường bệnh


Diện tích xây dựng trung bình hiện nay của chuyên khoa Đông - Tây y kết hợp là 1486,4m2, chiếm 3,4% tổng diện tích xây dựng bệnh viện. y học chiếm trung bình lần lượt là 4,2% và 3,8% tổng diện tích xây dựng bệnh viện. Số giường bình quân của các bệnh viện Đông y và Tây y tổng hợp là 64, chiếm 10,9% tổng số giường bệnh, số giường bình quân của các bệnh viện tuyến 3 là 71,2, số bình quân ở các bệnh viện hạng 2 là 38,2. với số giường lớn nhất có 230 giường, chiếm toàn bệnh viện 20,9% tổng số giường.


2.3 Cấu hình thiết bị


Kết quả khảo sát cho thấy, các chuyên ngành Đông - Tây y kết hợp tại 27 bệnh viện sử dụng chung thiết bị chẩn đoán quy mô lớn với các chuyên ngành khác trong bệnh viện. 66,7% các chuyên ngành có thiết bị chẩn đoán và điều trị 4 bệnh về lưỡi, mạch, chẩn đoán và thiết bị điều trị bệnh gan, thiết bị điều trị tần số thấp, thiết bị điều trị tần số trung bình. 96,3% chuyên ngành có thiết bị vật lý trị liệu phục hồi chức năng như giường xông hơi, máy xông hơi y học cổ truyền, giường massage hồng ngoại vi tính, máy xông hơi cổ truyền. thuốc iontophoresis.


2.4 Tình trạng của các dịch vụ y tế và sức khỏe


2.4.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ y tế. Trong số 27 bệnh viện mẫu, số lượt khám bệnh ngoại trú trung bình của y học cổ truyền Đông y và Tây y kết hợp từ năm 2014 đến năm 2016 là 17.714, 20005 và 21.847, và số lượt khám bệnh nội trú trung bình hàng năm lần lượt là 1.144, 1228 và 1210.


2.4.2 Tình trạng nhận bệnh. Năm căn bệnh hàng đầu tại các phòng khám ngoại trú chuyên nghiệp của Đông y và Tây y tổng hợp là viêm gan B, xơ gan, viêm gan C, ung thư gan và lao. Năm bệnh đứng đầu trong bảng phổ bệnh của bệnh nhân nhập viện là viêm gan B, xơ gan, ung thư gan, bệnh gan tự miễn và bệnh lao.


2.5 Tình hình nhân sự


2.5.1 Tổng số nhân sự. Trong các bệnh viện mẫu, có trung bình 776 chuyên gia y tế, trong đó 36 chuyên gia về y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc tổng hợp, chiếm 4,6% số chuyên gia y tế của bệnh viện. Số người trung bình ở bệnh viện tuyến 3 là 41 người, bệnh viện hạng 2 là 18 người. Có 16 nhân viên chuyên nghiệp người Trung Quốc và châu Phi, chiếm 44,4% tổng số nhân viên kỹ thuật và vệ sinh chuyên nghiệp. Số lượng nhân sự được thuê lại chiếm 1,8% tổng số chuyên gia.


2.5.2 Sự phân bố vị trí. Trong chuyên khoa tổng hợp y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc, y sĩ, y tá và các loại kỹ thuật viên y tế khác lần lượt chiếm 34,3%, 64,6% và 1,1% trong tổng số kỹ thuật viên y tế. Độ tuổi của kỹ thuật viên vệ sinh tập trung chủ yếu ở độ tuổi 30-40 và 20-30 tuổi, lần lượt chiếm 35,2% và 32,5%. Chức danh chủ yếu là cán bộ cấp dưới chiếm 55%, sau đó là trung cấp chiếm 27,8%, cán bộ cao cấp chỉ chiếm 16,6%. Về trình độ nhân sự, trình độ đại học chiếm 41,5%, tiếp theo là trình độ cao đẳng chiếm 29,3%, tiến sĩ và thạc sĩ lần lượt chiếm 4,9% và 19,5%.


2.6 Nghiên cứu khoa học và học thuật


Có 22 bệnh viện đảm nhận công tác giảng dạy, trong đó có 21 bệnh viện cấp 3 và 1 bệnh viện cấp 2. Nguồn tài trợ nghiên cứu cho các đề tài nghiên cứu khoa học là các bộ, ban ngành quốc gia, tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức chuyên môn (học thuật), kinh phí nghiên cứu của thành phố và các bệnh viện tự quyên góp lần lượt là 7, 9, 11, 13 và 19 bệnh viện. Từ năm 2014 đến năm 2016, tôi đã xuất bản 22,3 bài báo học thuật với tư cách là tác giả đầu tiên, trong đó có 4,2 ở bệnh viện trung học và 27,4 ở bệnh viện đại học; đã giành được 2,8 giải thưởng thành tựu nghiên cứu khoa học, trong đó có 1,4 ở bệnh viện trung học và 3,2 ở bệnh viện đại học; do tôi chủ biên. đã hoàn thành 2,5 chuyên khảo, trong đó có 1,3 chuyên khảo ở bệnh viện hạng 2 và 2,8 ở bệnh viện hạng ba.


2.7 Đào tạo và giáo dục thường xuyên


Tại các bệnh viện có đào tạo cán bộ, thời gian đào tạo cho các cán bộ khác trước khi chuyển lên khoa đại học hầu hết là 1-3 tháng, chiếm 33,3%, có 5 bệnh viện đào tạo trên 1 năm chiếm 18,5%. 94,4% các chuyên gia y học phương Tây và Trung Quốc tích hợp sẽ thường xuyên tổ chức học tập kinh doanh tại khoa. Mỗi bệnh viện đều có hệ thống đào tạo y học thường xuyên hoặc hệ thống đánh giá tín chỉ về tích hợp y học cổ truyền phương Tây và phương Tây, trung bình mỗi năm cử 2,1 người lên bệnh viện tuyến trên đào tạo, thời gian đào tạo trung bình cho mỗi người là 5,8 tháng.


3 Thảo luận


3.1 Tỷ lệ thành lập chuyên môn của y học cổ truyền Trung Quốc và Tây y kết hợp tương đối cao, nhưng sức mạnh chuyên môn của các bệnh viện khác nhau rất khác nhau


Kết quả khảo sát cho thấy có 27 bệnh viện thành lập chuyên khoa tổng hợp Đông - Tây y, với tỷ lệ thành lập chuyên môn là 90%. diện tích xây dựng, số giường, cấu hình trang thiết bị, số lượng hội chẩn, cơ cấu đội ngũ nhân tài Về thực lực, các chuyên khoa tổng hợp đông tây y ở một số bệnh viện là vô dụng. Nguyên nhân của sự phát triển mất cân đối không chỉ liên quan đến các yếu tố khách quan như trình độ phát triển kinh tế, quy mô dân số, tuyến bệnh viện mà còn liên quan đến sự đầu tư của chính quyền địa phương đối với các bệnh viện bệnh truyền nhiễm.Hiện nay, có sự khác biệt trong chi tiêu y tế ở các vùng khác nhau[3]Các khu vực phát triển có nhiều nguồn nhân lực, tài chính và vật lực để hỗ trợ phát triển các bệnh viện bệnh truyền nhiễm, trong khi các khu vực kinh tế kém phát triển thì lại bị hạn chế và các khu vực này chính là khu vực có tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm cao.


Các bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm chịu trách nhiệm chính vì sức khỏe cộng đồng, có phúc lợi công cộng mạnh mẽ và ngoại tác tích cực. các cơ quan chính phủ nên Tăng cường đầu tư vào đó.Trước hết, cần tăng cường hỗ trợ tổng thể và bồi thường tài chính, đặc biệt là đối với sự kết hợp của y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây; thứ hai, theo tình hình thực tế của bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ chi trả y tế cho bệnh nhân cần được tăng lên một cách hợp lý.[4].


3.2 Nguồn bệnh tổng hợp của Đông y và Tây y khan hiếm, số lượng không đủ


Điều tra cho thấy, năm 2016, số lượt chuyên môn chẩn đoán và điều trị tổng hợp Đông y và Tây y giảm 1,5% so với năm trước, phản ánh sự thiếu hụt nguồn chuyên môn của YHCT tổng hợp tại các bệnh viện bệnh truyền nhiễm.Điều này liên quan đến sự thiếu năng lực cạnh tranh tổng thể của các bệnh viện bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm giảm, hệ thống quản lý bệnh truyền nhiễm tập trung chưa hoàn thiện, công chúng hiểu sai về bệnh truyền nhiễm và địa điểm phát bệnh truyền nhiễm xa xôi. các bệnh viện.[5-6]Còn liên quan đến việc chuyên khoa chưa hình thành được thương hiệu, lợi thế riêng biệt, lãnh đạo bệnh viện không chú trọng.


Để đối phó với tình trạng thiếu nguồn bệnh chuyên nghiệp tại các bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm có tích hợp y học cổ truyền phương Tây và y học cổ truyền, một là tận dụng tối đa các nguồn lực của chính phủ, chuẩn hóa việc quản lý tập trung bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm và hệ thống truy cập chặt chẽ.[7]Thứ hai, lãnh đạo bệnh viện cần hết sức coi trọng việc bố trí nguồn lực y tế một cách tối ưu, nêu rõ những đặc điểm, lợi thế của việc bệnh viện hội nhập y học phương Tây và Trung y; thứ ba, bộ môn cần xây dựng kế hoạch phát triển bản thân để hình thành đặc điểm chuyên môn chẩn đoán và điều trị. càng sớm càng tốt, và phương hướng và quy mô phát triển, giao lưu học thuật và khuyến học, khuyến tài Kết hợp đào tạo và giới thiệu, học tập và nâng cao chuyên môn, xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp về y học cổ truyền phương Tây và Đông y tổng hợp với những nhà lãnh đạo học giỏi, cơ cấu hợp lý tài năng chuyên môn, trình độ kỹ thuật và học thuật cao; thứ tư là mở rộng công khai, hướng dẫn nhân dân đánh giá đúng và chấp nhận Điều trị chuyên nghiệp bằng phương pháp tổng hợp Đông y và Tây y, tiếp cận kịp thời với thông tin y tế.


3.3 Phạm vi chẩn đoán và điều trị của y học cổ truyền Trung Quốc và phương Tây tích hợp là hẹp


Các bệnh viện bệnh truyền nhiễm chủ yếu tập trung điều trị nội khoa điều trị 38 loại bệnh truyền nhiễm hợp pháp[8]. Do đặc thù và hạn chế về chuyên môn của bệnh viện bệnh truyền nhiễm, phạm vi hoạt động của bệnh viện tương đối đơn lẻ, tình trạng này còn xảy ra ở chuyên khoa tổng hợp đông tây y. Nghiên cứu này cho thấy 27 bệnh viện bệnh truyền nhiễm có phạm vi hẹp trong chẩn đoán và điều trị chuyên môn y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc. Cần phá bỏ khuôn mẫu xây dựng đơn khoa, phát triển mạnh mẽ các bộ môn toàn diện để “nuôi sống” các chuyên khoa, nâng cao trình độ chẩn đoán, điều trị chung và trình độ học vấn của bệnh viện, thúc đẩy sự phát triển chung của bệnh viện theo chuyên ngành, và đi theo con đường “chuyên chính, phát triển toàn diện”.


3.4 Không có đủ nguồn dự trữ của các chuyên gia y học phương Tây và Trung Quốc tích hợp và sự thiết lập của các cấp lãnh đạo không hợp lý


Hiện nay, tình trạng chảy máu chất xám ở các bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm đang diễn ra nghiêm trọng, tìm chuyên gia về y học tổng hợp của Trung Quốc và Tây y lại càng khó hơn. Do kinh tế suy thoái, rủi ro nghề nghiệp cao, địa điểm xa và nhiều lý do khác, các bệnh viện bệnh truyền nhiễm gặp bất lợi khi tuyển dụng nhân tài. Sau khi tuyển dụng nhân tài, do không có lợi thế về triển vọng phát triển, đề bạt, đào tạo ... nên hầu hết nhân tài ưu tú đều đổ về các cơ sở y tế cạnh tranh hơn nên không thể giữ chân được nhân tài. Điều tra cho thấy bệnh viện truyền nhiễm có trung bình 36 kỹ thuật viên y tế tổng hợp Đông y và Tây y, chỉ chiếm 4,6% tổng số kỹ thuật viên y tế của bệnh viện và nhìn chung phải đối mặt với vấn đề thiếu nhân lực chuyên môn. Các bệnh viện chuyên về bệnh truyền nhiễm chuyên về y học cổ truyền phương Tây và y học cổ truyền tổng hợp cũng phải đối mặt với vấn đề đội ngũ nhân viên quá trẻ, chênh lệch rõ ràng về nhân tài và trình độ học vấn nói chung là thấp.


Tạo ra đội ngũ nhân tài chất lượng cao và nâng cao toàn diện chất lượng tổng thể của đội ngũ y học tổng hợp Trung - Tây y là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh của bệnh viện. ① Cần tăng cường thành lập và đào tạo tổng hợp y học cổ truyền đông y trong các trường y, nâng cao chất lượng nhân tài từ nguồn, dành những nhân tài ưu tú cho sự phát triển tổng hợp của y học cổ truyền đông y và tây y. ② Thực hiện một cơ chế đào tạo nhân tài có mục tiêu và bằng cách xây dựng các biện pháp bảo vệ thực tế và khả thi, thu hút và khuyến khích các chuyên gia trẻ xuất sắc có khả năng kết hợp giữa Trung và Tây y phục vụ trong các bệnh viện bệnh truyền nhiễm. ③ Đào tạo lại những nhân tài hiện có trong nghề, tối ưu hóa cơ chế đào tạo nhân tài nội lực, tăng cơ hội cho các nhân tài tổng hợp Trung Y và Tây y tham gia trao đổi học thuật và đào tạo bài giảng, cải tiến cơ chế giáo dục thường xuyên, thể chế hóa và bình thường hóa giáo dục thường xuyên, khai thác hết tiềm năng của nhân viên y tế, Nâng cao trình độ lý luận và khả năng thực hành lâm sàng. ④ Thiết lập hệ thống “thầy và trò” gồm các nhà y học Trung Quốc nổi tiếng và lâu đời, phát huy hết vai trò của thế hệ chuyên gia lớn tuổi trong nền y học phương Tây và Trung Quốc tổng hợp.[9]. ⑤ Tích cực giới thiệu nhân tài, đặc biệt là những nhân tài chất lượng cao làm lãnh đạo học tập.


3.5 Trình độ nghiên cứu khoa học chuyên môn của y học cổ truyền phương Tây và y học cổ truyền Trung Quốc còn thấp, kinh phí hỗ trợ không đủ


Do điều kiện phần cứng và phần mềm của các bệnh viện bệnh truyền nhiễm còn hạn chế, kinh phí nghiên cứu khoa học không đủ, trình độ nghiên cứu khoa học tương đối thấp, điều này đã hạn chế việc phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp và khó lập đề tài nghiên cứu khoa học. Điều tra này cho thấy 63,3% bệnh viện bệnh truyền nhiễm cần tự huy động kinh phí nghiên cứu cho các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên môn.Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng, mục đích của một số cán bộ y tế tham gia nghiên cứu khoa học chỉ nhằm mục đích đề bạt chức danh nghề nghiệp, thường không được đầu tư nhiều tâm sức, nhiều công trình nghiên cứu khoa học lặp đi lặp lại, kết quả thu được không đạt yêu cầu.[10]. Để đối phó với vấn đề này, chuyên ngành y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc tổng hợp nên xây dựng một nền tảng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp để tạo ra một bầu không khí đổi mới. ① Khuyến khích các khoa tích cực thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và đổi mới, thông qua nghiên cứu lâm sàng và đánh giá thực hành phương pháp luận, đề xuất các chiến lược và kế hoạch điều trị tối ưu cho các bệnh có kết hợp Đông y và Tây y, đồng thời xác định vai trò và vị trí của y học cổ truyền Trung Quốc trong đó và tập trung nghiên cứu khoa học và đổi mới về bệnh truyền nhiễm Về chẩn đoán và điều trị, tìm cách chuyển đổi kết quả nghiên cứu khoa học của y học cổ truyền đông y tổng hợp và tây y phù hợp với đặc điểm của bệnh viện bệnh truyền nhiễm. Tích cực khám phá các phương pháp chẩn đoán và điều trị mới của Trung Quốc và Tây y, được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. ② Thúc đẩy tích hợp đa ngành, đặc biệt là tích hợp y học cổ truyền Trung Quốc và y học phương Tây, tích hợp hữu cơ sự khác biệt và điều trị của y học cổ truyền Trung Quốc và y học thực chứng của y học phương Tây, theo kịp sự phát triển khoa học đi đầu, mạnh dạn giới thiệu và khám phá các phương pháp lý thuyết và công nghệ mới, và đưa ra kế hoạch điều trị hiệu quả Tiết chế mạnh hơn, nâng cao hiệu quả điều trị.


Chúc các bạn đọc tin bong da 888.com.vn vui vẻ!

Original text