bong da 24

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 11/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về bong da 24

truc tiep bong da vtv3

Chuyên ngành kỹ thuật dân dụng nổi tiếng không chỉ đề cập đến các hoạt động liên quan đến kỹ thuật như thử nghiệm hoặc thiết kế một số thiết bị và vật liệu liên quan, mà còn đề cập đến các đối tượng trong quá trình xây dựng kỹ thuật, đó là tất cả các loại dự án mang lại thuận tiện cho sản xuất và đời sống của người dân như nhà ở, đường giao thông đi lại ... Bài viết này đã tổng hợp một bài văn mẫu về công trình dân dụng, các bạn cùng tham khảo nhé.


Phần 1: Thử phân tích sự đổi mới kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng


Jiang Junfei


Tóm tắt: Với sự phát triển không ngừng và tiến bộ của sức mạnh kinh tế và trình độ khoa học công nghệ của nước ta, sức mạnh toàn diện của quốc gia và vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao, trước tình hình đó, ngành xây dựng công trình dân dụng của nước ta cũng đã có những bước phát triển vượt bậc. Trong số đó, nhiều công nghệ xây dựng hiện đại đã được ứng dụng đầy đủ cũng đã góp phần to lớn, nâng cao hiệu quả thi công và chất lượng xây dựng các công trình dân dụng. Đồng thời, với tốc độ đô thị hóa nước ta đang từng bước, các thành phần trong xã hội đều đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với ngành xây dựng công trình dân dụng và đã quan tâm nhiều hơn, đòi hỏi phải có những cán bộ có liên quan trong quá trình làm việc thực tế. , việc tổng kết và cải tiến liên tục đã giúp cho ngành xây dựng công trình dân dụng đạt được sự phát triển bền vững một cách toàn diện. Bài báo này lấy sự đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng làm chủ đạo, phân tích và mô tả ngắn gọn.


Từ khóa: công trình dân dụng; công nghệ xây dựng công trình; đổi mới sáng tạo


Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá ở nước ta ngày càng nhanh, quy mô và số lượng các công trình xây dựng ngày một tăng lên, không chỉ vậy, do điều kiện và chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện, yêu cầu ngày càng cao hơn. đưa vào xây dựng công trình dân dụng. Đánh giá tình hình hiện nay, hiểu biết của người dân về công trình dân dụng vẫn còn ở công nghệ xây dựng hời hợt, trong khi các cán bộ trong ngành có liên quan đã tiến hành phân tích, nghiên cứu sâu hơn về công nghệ xây dựng và nền tảng lý thuyết. Để thúc đẩy có hiệu quả sự phát triển chung và tiến bộ của ngành xây dựng nước tôi, chỉ có một cách duy nhất là cải tiến và đổi mới công nghệ xây dựng. Sau đây là loạt thảo luận về đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng.


1. Vấn đề đa dạng và phát triển của công nghệ xây dựng công trình dân dụng


Xét theo hiện trạng, sự phát triển của công nghệ xây dựng công trình dân dụng ngày càng đa dạng và phong phú. Trước hết, công trình dân dụng có nhiều tính chất như cố định, hỗ trợ, đa dạng, toàn diện và thống nhất, và đất nước tôi có năng lực cơ sở hạ tầng lớn trong phát triển công nghệ xây dựng, hiệu quả xây dựng và chất lượng công trình cao. Nguyên nhân chính là do hệ thống hợp đồng phụ và mô hình phân công lao động hiện nay đã rất trưởng thành. Sau quá trình thực hành không ngừng và ứng dụng công nghệ xây dựng công trình dân dụng, kết cấu thép bê tông xi măng phát triển nhanh chóng, nghệ thuật kiến ​​trúc cũng có những bước phát triển và tiến bộ vượt bậc, quản lý sinh thái xây dựng công trình và thông minh hóa môi trường sống của con người cũng đã đạt được. một mức độ nhất định .Phát triển, nhưng xuất khẩu năng lực cơ sở hạ tầng còn có những vấn đề nhất định, nếu không giải quyết được hiệu quả sẽ hạn chế sự phát triển và tiến bộ của ngành xây dựng nước ta nói chung.


2. Đặc điểm và hiện trạng công nghệ xây dựng công trình dân dụng


Theo quan điểm thực tế, xây dựng công trình dân dụng rất khó, nội dung công trình rất phức tạp, đòi hỏi nhiều khía cạnh của thiết kế. Không chỉ vậy, thời gian thi công kéo dài, cường độ lao động và sự cơ động của nhân sự, cộng với tác động của môi trường khách quan và yêu cầu kỹ thuật và các mặt tác động khác khiến ngành xây dựng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Do đó, trong quá trình thi công xây dựng công trình dân dụng, chúng ta phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, quy cách có liên quan, đồng thời thực hiện quản lý tinh chỉnh và tiêu chuẩn hóa để đảm bảo sự phát triển và tiến độ của các dự án xây dựng.


2.1 Đặc tính kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng


Trên quan điểm thực tế, các yếu tố môi trường khách quan sẽ tác động trực tiếp đến quá trình thi công toàn bộ dự án xây dựng, đội ngũ cán bộ liên quan phải có khả năng sử dụng tình hình thực tế tại công trường làm cơ sở để lập phương án thi công. Mục đích là tăng cường giám sát và quản lý quá trình xây dựng công trình dân dụng, đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình. Ngoài ra, cần hoạch định chính xác quy trình thi công và các đặc điểm cơ bản của công nghệ xây dựng, làm tốt công tác phối hợp giữa các bộ phận, tăng cường phối hợp giữa các bộ phận để chất lượng công trình được đảm bảo và nâng cao hiệu quả.


2.2 Hiện trạng công nghệ xây dựng công trình dân dụng


Việc nâng cao trình độ khoa học và công nghệ ở nước ta đã thúc đẩy sự phát triển của trình độ kỹ thuật chung của ngành xây dựng, từng bước hình thành hệ thống tiêu chuẩn công nghệ xây dựng phù hợp với tình hình hiện nay ở nước ta. Nhìn từ khía cạnh khách quan, ngành xây dựng dân dụng của nước tôi vẫn còn một số vấn đề. Trước hết, kiến ​​thức lý thuyết về xây dựng chưa phù hợp với tình hình thực tế của công trường, thiếu đổi mới công nghệ xây dựng. Ngoài ra, công nghệ xây dựng không được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn trong quá trình ứng dụng thực tế, công tác chuẩn bị trước khi xây dựng chưa đầy đủ, mục tiêu còn mơ hồ, và đội ngũ cán bộ liên quan thiếu ý thức đổi mới nghiêm trọng. Vấn đề trong quản lý xây dựng cũng nghiêm trọng hơn, khi dự án có vấn đề thì khó tìm được người chịu trách nhiệm liên quan và né tránh lẫn nhau, điều này có thể lý giải rằng việc phân công trách nhiệm dự án chưa rõ ràng và ban quản lý dự án làm không đủ lương, đương nhiên không đổi mới, cứ tiếp tục như vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành xây dựng nước ta.


3. Sự cần thiết của đổi mới công nghệ trong xây dựng công trình dân dụng


Theo quan điểm thực tiễn, chỉ có liên tục ứng dụng và đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng mới có thể hoàn toàn đi trước thời đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thực tế của sự phát triển hiện đại hóa. Tăng cường đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng không chỉ để xây dựng các công trình xây dựng đổi mới mà còn để đảm bảo tốt hơn và nâng cao chất lượng xây dựng công trình dân dụng, trên cơ sở đó để đạt được sự phát triển lớn mạnh hơn nữa chúng ta cần chú ý. Sự phát triển đổi mới của công nghệ xây dựng công trình dân dụng không thể thực hiện một cách mù quáng mà trước hết cần tiến hành phân tích toàn diện và cẩn thận tình hình thực tế hiện tại, xem xét toàn diện các yếu tố môi trường khách quan theo đặc điểm của dự án xây dựng, từ đó có thể xác định được phương hướng và mục tiêu xây dựng đổi mới công nghệ xây dựng.


3.1 Đổi mới là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của công nghệ xây dựng công trình dân dụng


Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế của sự phát triển thời đại ngày nay, xây dựng công trình dân dụng cần phải bắt đầu từ nhiều khía cạnh, không ngừng cải tiến và hoàn thiện, để đạt được những tiến bộ thực sự và đột phá, đổi mới công nghệ xây dựng là điều kiện tiên quyết cần thiết. Các cán bộ có liên quan cần tiến hành phân tích và nghiên cứu sâu về vấn đề này để nâng cao trình độ kỹ thuật và khả năng đổi mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển và đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng.


3.2 Đổi mới nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp


Trong những năm gần đây, sự cạnh tranh trên thị trường xây dựng ngày càng trở nên gay gắt khiến các công ty xây dựng phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến của nước ngoài là một thử thách gay gắt đối với các công ty xây dựng trong nước. Các công ty xây dựng muốn có chỗ đứng trong thị trường cạnh tranh khốc liệt thì trước hết phải bắt đầu bằng công nghệ, dũng cảm đổi mới, đổi mới quan niệm quản lý, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển của ngành xây dựng nước ta, từ đó nâng cao năng lực của họ. khả năng cạnh tranh và đảm bảo rằng các công ty xây dựng có thể đạt được sự phát triển nhanh chóng và ổn định.


4. Phân tích đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng


4.1 Đổi mới công nghệ ứng suất trước


Cải tiến của máy dự ứng lực là nhiệm vụ đầu tiên trong toàn bộ dự án xây dựng. So với cách bố trí cấu kiện truyền thống trước đây, dàn ứng lực ngoài có thể đặt các gân dự ứng lực bên ngoài tiết diện của bê tông, so với công nghệ thi công trước đây có thể đạt được kết quả tốt hơn. Ngoài ra, lực ứng suất trước ngoại quan có thể mang lại sự thuận tiện lớn cho việc bảo trì và quản lý đường ống sau này, và nó cần nhân viên kỹ thuật có liên quan để kiểm soát nó một cách hiệu quả. Khi tiến hành đổi mới công nghệ ứng suất trước, cần nâng cao tác dụng và chất lượng của thiết kế kết cấu ứng suất trước, lấy tình hình thực tế làm cơ sở bảo đảm tính khoa học và tính khả thi của ứng suất trước.


4.2 Đổi mới công nghệ hỗ trợ hố móng sâu


Với tốc độ đô thị hóa dần dần của nước tôi, nhà cao tầng đã trở thành một trong những hình thức chính của các dự án xây dựng hiện nay, và công nghệ hỗ trợ hố móng sâu đã nhận được sự quan tâm sâu rộng của các nhân sự có liên quan. Nếu chất lượng đất của khu vực xây dựng kém, có thể sử dụng hệ thống hỗ trợ cọc-cọc-neo để tăng cường hiệu quả kết cấu hỗ trợ. Đây là một dạng cải tiến của công nghệ hỗ trợ hố móng sâu, không chỉ đảm bảo hiệu quả xây dựng. chất lượng xây dựng, nó cũng có thể đảm bảo hiệu quả sự an toàn và ổn định của toàn bộ kết cấu hỗ trợ hố móng sâu, đặt nền móng vững chắc cho toàn bộ dự án xây dựng.


Kết luận:


Bài trước đã phân tích và mô tả ngắn gọn sự đổi mới công nghệ xây dựng công trình dân dụng. Xét trên góc độ tổng thể, thực lực kinh tế và trình độ khoa học công nghệ của nước ta đã có bước phát triển và tiến bộ vượt bậc, tốc độ đô thị hóa đang dần đẩy mạnh, để thích ứng tốt hơn với thời đại, việc đổi mới và cải cách công nghệ xây dựng công trình dân dụng sắp xảy ra., Nó cần tất cả các nhân viên làm việc cùng nhau để đạt được. Không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ xây dựng có thể tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bù đắp những thiếu sót và hạn chế của công nghệ xây dựng truyền thống trước đây, đảm bảo doanh nghiệp xây dựng có thể đạt được sự phát triển lớn mạnh hơn.


Phần 2: Công nghệ xây dựng kết cấu bê tông trong công trình dân dụng


Phạm Băng Băng (Chi nhánh Trùng Khánh của Công ty TNHH Tập đoàn Cục 4 Đường sắt Trung Quốc, Quận Yubei, Trùng Khánh 401120)


Tóm tắt: Ngày nay đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, con người ngày càng có yêu cầu cao hơn về kiến ​​trúc, để xây dựng nhà ở đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con người thì có rất nhiều công trình được tiếp tục xây dựng. đang trong quá trình xây dựng nên yêu cầu đối với việc xây dựng công trình cũng không ngừng nâng cao, chất lượng công trình là sự nắm bắt liên tục của quá trình thi công trong quá trình xây dựng nên khía cạnh xây dựng là một phần quan trọng, bài viết này nói về công trình dân dụng Công nghệ xây dựng bê tông được phân tích.


Từ khóa: công trình dân dụng; kết cấu bê tông; công nghệ xây dựng


Xây dựng công trình dân dụng của nước ta không ngừng thay đổi cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành xây dựng. Xây dựng công trình dân dụng là một công trình mang tính hệ thống tương đối cao, vì vậy để kiểm soát công trình tốt hơn và chất lượng công trình đáp ứng được các yêu cầu liên quan thì trong quá trình thi công cần phải cải tiến công nghệ xây dựng.


1 Hiện trạng của Kỹ thuật Xây dựng


1.1 Sự phát triển lý thuyết


Lý thuyết kỹ thuật dân dụng là một ngành học tương đối toàn diện, bao gồm nhiều bộ môn như cơ khí, thống kê, máy tính, vì vậy để đảm bảo lý thuyết được tin cậy hơn thì cần phải củng cố các bộ môn này. Ngày nay, công trình dân dụng đã có những bước phát triển vượt bậc nhờ sự phát triển và ứng dụng không ngừng của công nghệ máy tính, việc ứng dụng công nghệ máy tính không ngừng trong ngành xây dựng và ngành đường bộ cũng đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của các công trình này. Ngày nay, xã hội đang không ngừng bước vào công cuộc thông tin hóa nên việc trao đổi thông tin trong lĩnh vực xây dựng dân dụng cũng trở nên thuận tiện hơn.


1.2 Phát triển xây dựng


Về kỹ thuật xây dựng, vật liệu xây dựng và thiết bị xây dựng ngày nay liên tục được cập nhật, nhưng quá trình xây dựng cũng không ngừng phát triển với sự thay đổi của các khái niệm, và nhiều loại vật liệu và thiết bị mới đã được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, cho dù đó là các công trình công nghiệp. và các công trình dân dụng đã có những bước phát triển vượt bậc sau khi sử dụng rộng rãi vật liệu mới, chất lượng được đảm bảo hơn. Việc ứng dụng thiết bị trong xây dựng tiếp tục được tự động hóa và cơ giới hóa nên các công trình quy mô lớn cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, ngày nay một số công trình phức tạp cũng đã được hiện thực hóa, và công trình dân dụng đang phát triển nhanh chóng về mặt khoa học. Có nhiều phương pháp thi công công trình ngầm đô thị, là nền tảng và kinh nghiệm cho việc phát triển không gian ngầm trong kỹ thuật xây dựng.


2 Chuẩn bị trước khi thi công


Trong thi công thực tế, trước tiên bạn cần chuẩn bị trước, đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng công trình, vì vậy trước khi thi công bê tông khối lượng lớn, tỷ lệ cấp phối và vật liệu của bê tông cần được cân chỉnh, và công việc khác cũng được yêu cầu. hãy sẵn sàng. Phải đảm bảo tính liên tục của bê tông khối lượng lớn khi bắt đầu đổ, nếu trong quá trình thi công công tác chuẩn bị không được thực hiện thì công tác chuẩn bị sẽ bị gián đoạn trong quá trình thi công sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của công tác đổ bê tông.


2.1 Lựa chọn nguyên liệu thô


Bê tông là một loại vật liệu hỗn hợp, chứa nhiều loại vật liệu như xi măng, cốt liệu, nước ngoài ra còn chứa một số chất phụ gia khác, vì vậy vật liệu là rất quan trọng đối với bê tông, và chất lượng của vật liệu phải đảm bảo chất lượng cần được kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo rằng chất lượng của các vật liệu được lựa chọn đáp ứng các tiêu chuẩn tương ứng. Hàm lượng nước và hàm lượng bùn trong cốt liệu cần được kiểm soát hiệu quả để đảm bảo rằng chúng nằm trong phạm vi thích hợp, và không thể có chất ăn mòn trong nước, và không thể lựa chọn các chất phụ gia một cách mù quáng theo nhu cầu cụ thể của dự án và tình hình thực tế được lựa chọn để đảm bảo rằng các phụ gia được lựa chọn là hợp lý đáp ứng nhu cầu của công trình. Chức năng chính của phụ gia bên ngoài là giảm thiểu tác dụng bù co ngót của bê tông, có thể làm giảm hiệu quả sự xuất hiện của các vết nứt bê tông.


2.2 Tỷ lệ trộn của bê tông


Chất lượng bê tông phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ cấp phối của bê tông, nếu tỷ lệ cấp phối không phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của toàn bộ công trình, vì vậy khi lựa chọn tỷ lệ cấp phối cần kết hợp đầy đủ các Đồng thời do diện tích thi công khác nhau nên có nhiều yếu tố ảnh hưởng, vị trí địa lý và nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng lớn đến bê tông nên cần lựa chọn tỷ lệ cấp phối phù hợp nhất. theo các điều kiện này. Tỷ lệ trộn cần chú ý đến tỷ lệ nước, nước cũng là yếu tố quyết định chất lượng bê tông, khi pha chế hàm lượng nước không được quá cao hoặc quá thấp, nếu lượng nước quá nhiều sẽ sẽ rất quan trọng đến cường độ của bê tông, ảnh hưởng rất lớn, và nếu lượng nước quá ít sẽ dễ xảy ra hiện tượng tắc nghẽn nên người thiết kế cần kiểm soát chặt chẽ hàm lượng nước.


2.3 Các chế phẩm khác


Mặc dù bê tông là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng công trình nhưng cần phải thực hiện các công tác chuẩn bị khác để có thể xử lý tốt phần móng của toàn bộ công trình. chấp nhận là đủ điều kiện. Cần đảm bảo rằng hệ thống đỡ ván khuôn chắc chắn và đáng tin cậy, không có khe hở. Ngoài ra, cần lắp ống đo nhiệt độ, vào mùa đông để đảm bảo an toàn cho người thi công cũng cần chuẩn bị trước các vật liệu cách nhiệt để bảo vệ người thi công khỏi ảnh hưởng của không khí lạnh. Trước khi tiến hành thi công bê tông khối lớn phải đảm bảo thi công xong phần móng, chỉ được tiếp tục thi công sau khi nghiệm thu.


3 Yêu cầu đối với công nghệ xây dựng


3.1 Yêu cầu giảm nhiệt độ của bê tông vào khuôn


Trước hết khi đổ bê tông bạn cần đảm bảo nhiệt độ tốt, chọn nhiệt độ thích hợp để thi công, không được đổ bê tông dưới không khí quá nóng, khi thi công vào mùa hè bạn cần đảm bảo được thực hiện trong môi trường nhiệt độ thấp và cũng cần có nước ngầm. Để trộn bê tông, vận chuyển và đổ cốt liệu, cần phải thực hiện một số biện pháp nhất định để hạ nhiệt, chẳng hạn như che nắng, v.v., do đó vấn đề của bê tông xâm nhập vào khuôn có thể được giảm hiệu quả, và sau đó một lượng nhất định có thể được thêm vào bê tông Chất làm giảm nước loại chậm. Cuối cùng, khi bê tông vào khuôn, để nhiệt trong khuôn được tản nhanh và tốt hơn thì cần phải thông gió để có thể tản nhiệt tốt hơn.


3.2 Giảm yêu cầu thủy nhiệt xi măng


Bản thân nhiệt do bê tông sinh ra do quá trình thủy luyện xi măng sinh ra nên khi lựa chọn nguyên liệu làm ĐCCT phải chọn loại nước muối xỉ có độ thủy nhiệt tương đối thấp để chuẩn bị cho bê tông cường độ của xi măng cần được sử dụng một cách khoa học và hợp lý để lượng xi măng giảm thiểu hiệu quả. Cuối cùng khi lựa chọn cốt liệu cũng cần tận dụng tốt điều kiện thi công tại chỗ để lựa chọn cấp phối phù hợp hơn. Đồng thời, bạn có thể bổ sung lượng tro bay và chất khử nước thích hợp vào bê tông để có thể nâng cao hiệu quả độ dễ chảy của bê tông, lượng xi măng có thể giảm đến mức lớn nhất nên quá trình thủy nhiệt sẽ diễn ra một cách tự nhiên. nhận được Giảm để đáp ứng nhu cầu của kỹ thuật.


Một phương pháp khác có thể làm giảm nhiệt độ đun nước của bê tông một cách hiệu quả là phương pháp chôn sẵn ống nước làm mát, được nhúng vào trong móng, để có thể giảm nhiệt độ đun nước của bê tông bằng phương pháp làm mát bằng nước. Cuối cùng, một lượng cát và sỏi nhất định có thể được thêm vào trong quá trình xây dựng, điều này cũng có thể làm giảm nhiệt độ đun nước một cách hiệu quả.


3.3 Tăng cường kiểm soát nhiệt độ trong quá trình thi công


Trước hết, sau khi đổ bê tông xong thì người kỹ thuật thi công cũng cần làm tốt công tác bảo dưỡng bê tông, đồng thời cũng cần chú ý đến công tác giữ ẩm vào mùa hè nắng nóng để tránh tiếp xúc với mặt trời, và cũng cần phải chú ý đến việc xây dựng vào mùa đông Nhiệt độ tốt, thực hiện các biện pháp che phủ để giữ ấm để tránh hạ nhiệt. Thứ hai, khi xây dựng xong, bê tông cần được bảo dưỡng trong thời gian dài, phải phá bỏ các khuôn đúc đúng thời điểm có thể làm chậm thời gian nguội. Sau đó, cần phát hiện và quản lý nhiệt độ, áp dụng các phương pháp kiểm soát dựa trên thông tin và xử lý chúng kịp thời. Cuối cùng, khi đang thi công cần bố trí hợp lý trong quá trình thi công, kiểm soát độ rải đều của bê tông trong quá trình đổ để tránh tích tụ.


3.4 Kiểm soát cường độ kéo của bê tông


Trước hết, trong quá trình trộn bê tông, do bê tông chứa nhiều cát sỏi nên bê tông sẽ bị co ngót, đồng thời cường độ chịu kéo của bê tông cũng giảm đi rất nhiều nên phải kiểm soát chặt chẽ hàm lượng bùn của cát. và sỏi để tránh hiện tượng nứt vỡ do hàm lượng cát, sỏi cao. Sau đó cần loại bỏ nước và vữa bám trên bề mặt kịp thời sau khi đổ, bảo dưỡng sớm để nâng cao hiệu quả cường độ chịu kéo của bê tông, cuối cùng bê tông được trộn đều với cốt thép. để đảm bảo Sự phân bố ứng suất tốt được cải thiện, tránh hiện tượng nứt một cách hiệu quả.


4 tóm tắt


Phạm vi xây dựng công trình dân dụng tương đối rộng nên để đảm bảo chất lượng cần phải cải tiến công nghệ thi công, công nghệ thi công bê tông được sử dụng rộng rãi, đây cũng là công việc rất phức tạp nên trong toàn bộ công trình xây dựng Cần kiểm soát chặt chẽ các quy trình và tiêu chuẩn xây dựng để giảm thiểu sự xuất hiện của các vết nứt một cách hiệu quả, ngoài ra cần đảm bảo mọi liên kết trong dự án đều đạt tiêu chuẩn xây dựng để đảm bảo chất lượng chung của dự án.


Phần 3: Nghiên cứu và Thực hành các Khóa học Trực tuyến về Kỹ thuật Xây dựng


Chen Guozhou, Ouyang Heng, You Zhijia (Khoa Xây dựng, Đại học Công nghệ Phúc Kiến, Phúc Châu, Phúc Kiến)


Tóm tắt: Bài viết này lấy khóa học cốt lõi "Kỹ thuật cơ bản" cho xây dựng dân dụng làm ví dụ, phân tích những ưu điểm và nhược điểm của các khóa học trực tuyến và giới thiệu kinh nghiệm thực tế của đội ngũ giảng viên trong việc xây dựng các khóa học trực tuyến, có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho những người xây dựng khóa học trực tuyến có liên quan.


Từ khóa: MOOC; các khóa học trực tuyến; kỹ thuật dân dụng; kỹ thuật cơ bản


Theo xu hướng học tập suốt đời, học trực tuyến đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng giáo dục, và một khóa học mở trực tuyến quy mô lớn (MassiveOpenOnlineCourse, viết tắt là MOOC, phiên âm là “MOOC”) đã ra đời vào thời điểm lịch sử. MOOC bắt đầu từ năm 2008. Các giáo viên đại học ở Hoa Kỳ và Canada đã cố gắng mở các khóa học trong khuôn viên trường cho xã hội thông qua Internet, và kể từ đó mở đầu cho việc giảng dạy mở trực tuyến. Đại học Stanford đã mở ba khóa học máy tính miễn phí cho toàn thế giới vào năm 2011, và số lượng người đăng ký đã vượt quá hoặc gần 100.000 người. Đến năm 2012, nhiều trường học, tổ chức và cá nhân đang cung cấp MOOC trên Internet. Tác giả của tờ "Thời báo New York" Hoa Kỳ Laura Pappano (Laura Pappano) đã gọi năm 2012 là năm của MOOC. Cùng năm đó, Đại học Mở của Vương quốc Anh đã thành lập nền tảng FutureLearn vào năm 2012. Năm 2013, 11 quốc gia châu Âu đã cùng nhau ra mắt trang web MOOCs OpenupED.


Bài viết này phân tích những thuận lợi và khó khăn của các khóa học trực tuyến. Lấy khóa học cốt lõi "Kỹ thuật cơ bản" của ngành xây dựng dân dụng làm ví dụ, giới thiệu kinh nghiệm thực tế của đội ngũ giảng viên trong việc phát triển các khóa học trực tuyến, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho khóa học trực tuyến liên quan thợ xây dựng.


1. Sự phát triển của các khóa học trực tuyến ở Trung Quốc


Các trường đại học Trung Quốc đã từng bước tham gia xây dựng MOOC vào năm 2013. Năm 2015, Bộ Giáo dục của nước tôi đề xuất rằng việc xây dựng các khóa học trực tuyến cần kết hợp kinh nghiệm tiên tiến của quốc tế với những lợi thế truyền thống của việc giảng dạy giáo dục đại học của đất nước tôi, tích hợp các nguồn lực giáo dục chất lượng cao và các nguồn lực kỹ thuật, đồng thời thực hiện việc chia sẻ các khóa học và nền tảng. Bộ Giáo dục đã xác định 490 khóa học mở trực tuyến chất lượng cao quốc gia vào năm 2017, 801 khóa học vào năm 2018 và dự kiến ​​phê duyệt khoảng 3000 khóa học vào năm 2020.


Nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu thực hiện nghiên cứu về giáo dục trực tuyến.Yang Lu bắt đầu với việc phân tích sự phát triển của MOOC và các khóa học trực tuyến trong nước hiện có, so sánh chúng với các khóa học trực tuyến thông thường của trường đại học như khóa học chất lượng trong nước, khóa học mở video, khóa học chia sẻ tài nguyên, v.v. và đưa ra một số đề xuất cho các khóa học trực tuyến trong nước để đối phó với tác động của MOOCs[1].He Xinyi đã sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để phân loại tình hình hiện tại của việc xây dựng và áp dụng các khóa học trực tuyến trong các trường cao đẳng và đại học trong nước, đồng thời thảo luận về các vấn đề phải đối mặt.[2].Zhang Fang đã tóm tắt những ưu và nhược điểm của các khóa học SPOC trong thực tế thông qua việc nghiên cứu các ví dụ về các khóa học SPOC ở các trường cao đẳng và đại học, sau đó đưa ra các biện pháp đối phó tương ứng.[3].


Hai lợi thế của các khóa học trực tuyến


(1) Chế độ học tập linh hoạt


Trong những năm gần đây, điện thoại thông minh ngày càng trở nên phổ biến và việc học bằng điện thoại di động cũng trở thành một cách học mới, được gọi là “lớp học di động”. Thông qua Ứng dụng điện thoại di động, các khóa học trực tuyến có thể được truyền vào điện thoại di động và vùng phủ sóng của tín hiệu mạng có thể thực hiện việc học lặp lại bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào mà không cần phần cứng khác. Nhờ đó, địa điểm học trở nên linh hoạt hơn, thời gian học có thể được kiểm soát theo ý muốn và trình tự học cũng có thể tự điều chỉnh.


Nổi bật nhất là ưu điểm trong việc sử dụng thời gian, học viên có thể tận dụng được khoảng thời gian phân tán khi xếp hàng chờ xe buýt, chỉ cần có mạng phủ sóng là có thể bắt đầu học một cách liền mạch mà không lãng phí những thứ rời rạc. thời gian. Lịch học do người học tự lập, nội dung học cũng có thể do người học lựa chọn theo nhu cầu của mình. Một số nội dung học không thể thành thạo trong một thời gian, người học có thể xem đi xem lại nhiều lần và tham gia thảo luận trực tuyến cho đến khi hiểu hết.


(2) Tài nguyên khóa học trực tuyến được tối ưu hóa


Các khóa học trực tuyến không chỉ đơn giản là nối mạng và số hóa nội dung của lớp học thông thường, nếu bạn chỉ lấy quá trình giảng dạy của giáo viên trong lớp học thông thường như một khóa học trực tuyến, điều này sẽ khiến video của đơn vị giảng dạy quá dài và khiến bạn không thể để người học tập trung vào việc đọc nó. Đồng thời, nếu nguồn video thiếu các chức năng có thể được điều chỉnh độc lập bởi người học, chẳng hạn như tua đi nhanh và tua lại chậm, nó cũng sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng học tập của người học và cản trở việc học được cá nhân hóa. Và các nguồn tài nguyên khóa học trực tuyến được tối ưu hóa có thể khắc phục những thiếu sót này. Nội dung của các khóa học trực tuyến được sắp xếp hợp lý hơn, thời gian cần thiết để học một phần nội dung tương đối ngắn, chủ đề nổi bật hơn, mục tiêu rõ ràng hơn và học viên dễ chấp nhận hơn, từ đó nâng cao hứng thú học tập của họ. .


(3) Liên kết nội bộ của các tài nguyên khóa học


Nguồn tài nguyên khóa học trực tuyến hiện có ở nước ta thực sự rất phong phú, tuy nhiên phần lớn tài nguyên khóa học thiếu liên kết hữu cơ, ví dụ như video giảng dạy của giáo viên, giáo trình ppt điện tử, giáo trình,… đều độc lập và khó cho người học. để tích hợp các nguồn lực này một cách khoa học và hợp lý. Các khóa học trực tuyến tích hợp các tài nguyên phân tán một cách hiệu quả bằng cách liên kết nội bộ các tài nguyên khóa học, để các tài nguyên học tập được hệ thống hóa. Hệ thống hóa được thể hiện trong chuỗi các chương của khóa học và sự liên kết giữa các điểm kiến ​​thức của khóa học và các chức năng liên quan như siêu liên kết được thực hiện thông qua công nghệ mạng.


(4) Phân tích dữ liệu lớn cung cấp hướng dẫn học tập được cá nhân hóa


Người học để lại một lượng lớn dữ liệu học tập trong quá trình học các khóa học trực tuyến và những dữ liệu học tập này có thể được nền tảng khóa học ghi lại trong thời gian thực. Ví dụ, thời gian học, địa điểm học, tần suất học, thời gian thảo luận của người học, điểm kiểm tra, v.v., được chuyển thành dữ liệu và được lưu trữ trong nền tảng khóa học, tạo thành một lượng lớn dữ liệu lớn. Thông qua việc phân tích các dữ liệu hành vi học tập này và khai thác chuyên sâu, nó có thể cung cấp cho người học một lộ trình học tập được cá nhân hóa được tối ưu hóa, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của các khóa học trực tuyến.


Ba thiếu sót của các khóa học trực tuyến


(1) Việc xây dựng khóa học tốn nhiều thời gian và công sức


Việc xây dựng các khóa học trực tuyến trong nước có ba phương thức: giới thiệu, chuyển đổi và tự xây dựng. Chế độ giới thiệu là người dùng có được quyền sử dụng nền tảng khóa học thông qua một thỏa thuận và trực tiếp giới thiệu các tài nguyên khóa học trực tuyến chất lượng cao từ các trường học và giáo viên nổi tiếng. Mô hình chuyển đổi là kết hợp nhu cầu của bản thân và chuyển đổi một phần của các khóa học trực tuyến hiện có. Mô hình tự xây dựng là hình thành một nhóm khóa học để phát triển và thiết kế khóa học. Nói chung, nhóm khóa học bắt buộc phải có tích lũy giảng dạy sâu và thành viên của nhóm khóa học bao gồm các giảng viên, kỹ thuật viên mạng và các nhân viên phụ trợ có liên quan.


Các khóa học trực tuyến tự xây dựng là tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Các tài nguyên trực tuyến mà nhóm khóa học cần xây dựng bao gồm giáo trình, phần mềm hỗ trợ môn học, video giảng dạy, bài kiểm tra chương và tài liệu mở rộng. Trong số đó, việc sản xuất các video dạy học là điểm khó, các video dạy học không chỉ phản ánh được đặc điểm của các khóa học theo thứ bậc và chuyên đề mà còn nêu lên được những điểm mấu chốt và khó khăn của việc dạy học, đáp ứng được mục tiêu dạy học. Sau khi video được quay, cách biên tập video dạy học và cách xây dựng tài nguyên số trên nền tảng mạng đều đòi hỏi giáo viên không ngừng học hỏi để nâng cao khả năng số hóa mạng.


Ngay cả khi đó là để giới thiệu hoặc cải cách các khóa học trực tuyến, cách hướng dẫn sinh viên học cách áp dụng các nền tảng khóa học trực tuyến và ứng dụng di động khác nhau đòi hỏi người hướng dẫn phải nỗ lực nhiều hơn. Các giáo viên sử dụng các khóa học trực tuyến không chỉ là người đứng đầu các lớp học ngoại tuyến mà còn dành nhiều thời gian sau giờ học để tham gia thảo luận và trả lời các câu hỏi trong cộng đồng học tập trực tuyến.


(2) Có quá nhiều người học và không đủ tương tác giữa giáo viên và học sinh


Nói chung, có một số lượng lớn người học trong các khóa học trực tuyến, và một số khóa học có hàng nghìn sinh viên và hàng chục nghìn người. tạm ứng theo kế hoạch dạy học Học sinh chỉ được học từng bước theo quy trình quy định. Mặc dù mô hình học tập với các bước rõ ràng này giải quyết được hạn chế về thời gian giảng dạy và không gian giảng dạy, đồng thời cung cấp cho người học phương pháp học tập mới nhưng giáo viên và học sinh không thể tương tác sâu.


Đặc điểm số lượng lớn người tham gia các khóa học trực tuyến dẫn đến động cơ học tập, sự chuẩn bị học tập, sự quan tâm của người học khác nhau. Người học cung cấp hướng dẫn cá nhân hóa, phương pháp học tập của học sinh vẫn dựa trên việc thu nhận tài nguyên và việc trau dồi khả năng tư duy bậc cao chưa bao giờ đạt được.


(3) Thiếu sự giao tiếp giữa những người học


Mặc dù những người học khóa học trực tuyến cũng có thể giao tiếp với nhau thông qua nền tảng trực tuyến và trao đổi kinh nghiệm học tập của họ trong khu vực tin nhắn, nhưng tất cả những người học đều là những cá nhân đơn lẻ khi đối mặt với nền tảng khóa học và thiếu thảo luận trực tiếp, giao tiếp và kết nối xã hội với nhau., Không có bầu không khí thảo luận trong các khóa học truyền thống, không giống như các lớp học truyền thống, bạn có thể nhận được các kích thích từ môi trường và thông tin về các hoạt động học tập, để tạo ra một ấn tượng thực sự và cụ thể.


Trước tình hình đó, Armando Fox, giám đốc phòng thí nghiệm MOOCs tại Berkeley, tin rằng “MOOCs chỉ là một phần bổ sung cho việc giảng dạy trên lớp và không thể thay thế hoàn toàn việc giảng dạy trên lớp.” Và đề xuất mô hình SPOCs để bù đắp cho những thiếu sót chưa đủ giao tiếp ngoại tuyến. SPOCs là viết tắt của SmallPrivateOnlineCourse, có nghĩa là các khóa học trực tuyến nhỏ, riêng tư.


Bốn khóa học thực hành trực tuyến dành cho các chuyên ngành xây dựng dân dụng


(1) Lựa chọn khóa học


Nhà trường sẽ ưu tiên hỗ trợ các khóa học có chất lượng cao, hiệu quả giảng dạy tốt, được giáo viên và sinh viên khen ngợi, các khóa học này có ảnh hưởng nhất định và là minh chứng mạnh mẽ trong các khóa học tương tự. "Kỹ thuật Cơ bản", do nhóm khóa học chịu trách nhiệm, luôn là khóa học cốt lõi cho các chuyên ngành xây dựng dân dụng. Khóa học được hỗ trợ bởi việc xây dựng chương trình giảng dạy theo định hướng ứng dụng cấp trường vào năm 2014, khóa học chia sẻ tài nguyên chất lượng cấp tỉnh vào năm 2015 và phê duyệt dự án khóa học trực tuyến chất lượng cấp tỉnh vào năm 2017. Trường chúng tôi cung cấp khóa học này (hoặc các khóa học tương tự) về kỹ thuật dân dụng, kỹ thuật không gian ngầm đô thị, công nghệ và kỹ thuật khảo sát, kỹ thuật giao thông, quản lý dự án, chi phí kỹ thuật và các chuyên ngành khác. Trường chúng tôi có 700 sinh viên tham gia khóa học này mỗi năm học . ở trên. Cơ cấu tổ chức giảng dạy của khóa học hợp lý, tinh thần hợp tác giữa các thành viên tốt.


(2) Chuẩn bị tài liệu khóa học


Nguồn tài liệu cơ bản của môn học bao gồm kế hoạch giảng dạy, bài thuyết trình, video bài giảng của giáo viên, hướng dẫn chính và khó, bài tập về nhà, hình ảnh và video công trường xây dựng, danh mục tài liệu tham khảo, v.v. Khi làm PPT dạy học cần chú ý liệt kê và bố cục nội dung, cỡ chữ phù hợp, nội dung súc tích. Trong khóa học "Kỹ Thuật Cơ Bản" có rất nhiều công thức tính toán, sử dụng công cụ soạn thảo công thức thì mất nhiều thời gian, bài tập chủ yếu là các bài toán tính toán, kiểm tra quá trình tính toán cũng mất nhiều thời gian.


Xem xét ảnh hưởng của WeChat trên mạng di động, đội ngũ giảng dạy này coi WeChat là một phần quan trọng của các khóa học trực tuyến. Nhóm giảng dạy đã mở các tài khoản công khai WeChat có liên quan (được đặt tên là "Foundation and Foundation"), tích lũy từng chút một và vận hành tinh gọn. Viết những suy nghĩ và hiểu biết trong bài giảng thành các bài báo độc lập và đưa chúng đến những người đăng ký trên tài khoản công khai WeChat. Những bài báo này phản ánh hướng nghiên cứu và trình độ nghiên cứu của chính giáo viên, đồng thời có thể được dùng làm cầu nối để tương tác trực tuyến với học sinh. Vì môn học này là môn thiết kế kỹ thuật nên trong nghiên cứu cần có nhiều công thức tính toán, chúng tôi cho học viên sử dụng applet WeChat để tính toán, chương trình có thể sử dụng trực tiếp mà không cần tải và cài đặt.


(3) Tối ưu hóa các tài nguyên khóa học trực tuyến


Theo khung khóa học, các mô-đun kiến ​​thức được chia nhỏ và phân đoạn các video bài giảng. Để ngăn từng người học mở video nhưng không xem video đó, một bài kiểm tra đơn giản tương ứng có thể được nhúng vào video và người học có thể tham gia quá trình học tiếp theo sau khi vượt qua bài kiểm tra. Đặt nút điều chỉnh tốc độ trên giao diện xem video, người học có thể điều chỉnh tốc độ phát video để nâng cao hiệu quả học tập.


(4) Lựa chọn và sử dụng nền tảng khóa học


Các nền tảng khóa học được sử dụng phổ biến hơn ở Trung Quốc bao gồm "School Online", "Chinese University MOOC", "Good University Online", "Wisdom Tree" và "Superstar MOOC". "Kỹ thuật cơ bản" do nhóm này xây dựng đã xây dựng các khóa học trực tuyến trên các nền tảng khóa học như "Superstar" và "China University MOOC". Tất cả các chương của khóa học này (bao gồm video bài giảng, tài liệu phát tay, v.v.) đã được đặt trên nền tảng để cung cấp cho người học. Người học có thể học trên máy tính hoặc đăng nhập khóa học thông qua ứng dụng trên điện thoại di động.


Nền tảng khóa học có thể thực hiện thiết kế đơn vị giảng dạy hàng tuần. Thiết kế giảng dạy bao gồm nhiều liên kết như hiển thị video bài giảng, giao và sửa bài tập về nhà, kiểm tra đơn vị và thảo luận tương tác trực tuyến. Các khóa học nghiệp vụ xây dựng dân dụng là các khóa học rất chặt chẽ, không học các nguyên tắc thiết kế trước sẽ ảnh hưởng đến việc nắm vững các nội dung tiếp theo. hàng tuần để đảm bảo hiệu quả học tập.


(5) Ứng dụng trong giảng dạy


Đội ngũ giảng dạy kết hợp lớp học trực tiếp truyền thống và học trực tuyến. Học viên tìm hiểu trước nội dung khóa học trực tuyến, nếu có thắc mắc có thể đặt câu hỏi trên nền tảng khóa học, giảng viên sẽ giải đáp trực tuyến kịp thời nhằm khơi dậy nhiệt huyết của học viên. Trên lớp, giáo viên chỉ giải thích những điểm khó, còn trên lớp chủ yếu được sử dụng cho các hoạt động giảng dạy và phụ đạo như thảo luận mở rộng và hoàn thành bài kiểm tra bài tập về nhà. Mô hình này cho phép giáo viên giảm thời gian giảng dạy trên lớp, nâng cao hiệu quả giảng dạy, dành nhiều thời gian và năng lượng hơn cho việc hướng dẫn và tương tác giữa giáo viên và học sinh, từ đó tăng cường hiệu quả học tập.


Năm hiệu ứng ứng dụng


(1) Học tập của học sinh


Học sinh hoàn thành các yêu cầu nhiệm vụ của khóa học trực tuyến có thể nhận được kết quả của khóa học trực tuyến, và làm nhiều bài kiểm tra và bài kiểm tra đóng trong lớp học đối diện bên dưới dòng. Giáo viên có thể sử dụng chức năng thống kê của nền tảng khóa học để ghi lại và phân tích quá trình học tập của đối tượng học tập, điều này giúp ích cho việc cải tiến liên tục của khóa học này. Quá trình học tập của các môn học kỹ thuật dân dụng rất nhàm chán và khắt khe.


(2) Thành phần cấp của các khóa học trực tuyến


Trước khi bắt đầu lớp học, đội ngũ giảng viên đã xây dựng tiêu chuẩn chấm điểm cho các khóa học trực tuyến và thông báo cho học viên: 40 điểm khi xem video, 40 điểm khi xem tất cả và giảm theo tỷ lệ nếu học chưa xong. Số lượt truy cập chiếm 15 điểm và số lần đăng nhập là 15 điểm cho 200 lượt truy cập trở lên, nếu thiếu sẽ bị giảm tương ứng. Bài tập chiếm 15 điểm, và điểm đầy đủ cho tất cả bài tập là 15 điểm. Các bài kiểm tra chương chiếm 5 điểm, và tất cả các bài kiểm tra chương có toàn bộ số điểm là 5 điểm. 5 điểm cho thảo luận trực tuyến, 1 điểm khi đăng hoặc trả lời một cuộc thảo luận, tối đa 5 điểm. Bài kiểm tra online chiếm 20 điểm, toàn bài là 20. Đề kiểm tra được công bố cuối học kỳ, học sinh nộp sau khi trả lời câu hỏi là có thể xem ngay điểm của mình.


(3) Mở rộng khóa học


Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là xây dựng một khóa học trực tuyến mà còn là một nhóm các khóa học kỹ thuật dân dụng. Khi tài nguyên trực tuyến của một khóa học tích lũy đến một mức nhất định, nó sẽ tỏa ra các khóa học liên quan và thúc đẩy việc xây dựng trực tuyến các khóa học khác. Các khóa học này có thể chia sẻ tài nguyên trực tuyến trong các đơn vị mô-đun học tập, qua đó trao đổi những gì cần thiết và tạo thành một nhóm các khóa học chuyên nghiệp. Hiện tại, hai khóa học trực tuyến do nhóm phụ trách đã đạt giải nhì cuộc thi dạy học trên thiết bị di động Phúc Kiến, và 3 khóa học được phê duyệt xây dựng khóa học trực tuyến boutique cấp tỉnh, bước đầu hình thành nhóm khóa học trực tuyến.


Sáu kết luận


Trong những năm gần đây, các khóa học trực tuyến dần được nhiều người biết đến như một mô hình giáo dục mới.Các khóa học trực tuyến đã lật đổ phương thức giảng dạy truyền thống, từ việc truyền tải kiến ​​thức sang tương tác, khai sáng và tìm hiểu kiến ​​thức[4,5]. Khác với dạy học trên lớp truyền thống, phương pháp này dựa vào học trực tuyến trên Internet. Nó không còn nhấn mạnh vào việc học tương tác trực tiếp giữa giáo viên và học sinh mà chú trọng hơn đến nội dung và chất lượng của chính các nguồn học tập này. phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh. Để đạt được chất lượng giảng dạy tốt, việc giảng dạy các khóa học trực tuyến đòi hỏi sự chung sức của cả giáo viên và học viên. Các kết quả nghiên cứu và thực tế giảng dạy hiện tại cho thấy việc sử dụng phương thức giáo dục hỗn hợp, tức là tích hợp giáo dục trực tuyến và giáo dục truyền thống, có thể đạt được kết quả giảng dạy tốt hơn.


Chúc các bạn đọc tin bong da 24 vui vẻ!

Original text