ban xep hang bong da

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 06/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về ban xep hang bong da

xem bong da ngon

Tóm tắt: Mục tiêu Tìm hiểu phân tích giá trị của phương pháp điều trị áp xe phổi theo phương pháp y học cổ truyền phương Tây và Trung Quốc. Phương pháp Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2011, 22 bệnh nhân áp-xe phổi nhập viện chúng tôi đã được lựa chọn điều trị lâm sàng kết hợp Đông y và Tây y, và phân tích hiệu quả chữa bệnh. Kết quả Phân tích so sánh đã thông qua việc đánh giá các triệu chứng đau ngực và sốt của bệnh nhân trước và sau khi điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền phương Đông và phương Tây. điều trị là 23,45-3,25 điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn có ý nghĩa thống kê p <0,05 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân trước khi điều trị là 35,75-3,45 và điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân được điều trị là 25,55-2,25. Điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn đáng kể so với trước khi điều trị, p <0,05, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận Phương pháp điều trị lâm sàng áp xe phổi bằng phương pháp đông tây y kết hợp tốt hơn so với điều trị đơn lẻ bằng đông y hay tây y và có thể cải thiện hiệu quả các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân.


Từ khóa: áp xe phổi; đông y, tây y


Tây y cho rằng, áp xe phổi là chỉ những tổn thương hoại tử của mô phổi do nhiễm nhiều loại vi sinh vật khác nhau, tạo thành ổ áp xe. Tác nhân gây bệnh bao gồm vi khuẩn sinh mủ, mycobacteria, nấm hoặc ký sinh trùng, và hầu hết chúng là nhiễm trùng hỗn hợp. Trong y học Trung Quốc, bệnh phổi được coi là vết sưng tấy trên thùy phổi, tạo thành áp xe, dẫn đến ho, đau tức ngực, sốt, nôn ra đờm có mùi tanh, thậm chí ho và nôn ra mủ và máu.Đây là một trong những chứng bệnh nhọt bên trong. Trong y học phương Tây, nó thường do nhiễm trùng mô phổi, chẳng hạn như áp xe phổi.[1]. Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2011, 22 bệnh nhân áp-xe phổi đã được đưa vào bệnh viện của chúng tôi, được điều trị lâm sàng bằng phương pháp kết hợp đông y và tây y.


1 Dữ liệu và phương pháp lâm sàng


1.1 Thông tin chung Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2011, có 22 bệnh nhân áp xe phổi nhập viện, trong đó có 12 bệnh nhân nam và 10 bệnh nhân nữ, bệnh nhân 27-55 tuổi, tuổi trung bình là 38. Bệnh nhân lâm sàng đáp ứng các tiêu chuẩn sau, Đặc điểm lâm sàng là sốt cao, ho, khạc ra nhiều mủ và có mùi hôi. Chụp X-quang ngực cho thấy một hoặc nhiều khoang phẳng chứa khí và chất lỏng.


1.2 Phương pháp điều trị kháng sinh tương ứng tùy theo tác nhân gây bệnh. Liệu trình điều trị từ 8-12 tuần, cho đến khi hết ổ viêm và ổ phim X-quang, hoặc chỉ còn một lượng nhỏ ổ xơ, tụ cầu và nhiễm liên cầu, và có thể dùng penicillin kháng β-lactamase Hoặc dùng cephalosporin, chẳng hạn như tụ cầu kháng methicillin, dùng vancomycin. Kế hoạch điều trị bệnh TCM: 1. Phân biệt và điều trị hội chứng (1) Triệu chứng chính: ớn lạnh và sốt, ho và đau ngực, thở kém, khởi phát đột ngột, sốt tăng dần, khô miệng và mũi, đờm trắng, và tăng lượng đờm. Lớp phủ lưỡi mỏng và có màu vàng, mạch nổi và đếm được. Cơ chế bệnh sinh: phong nhiệt tán bàn, nội phong ở phổi, suy phổi Xuansu Phương pháp trị liệu: tán phong nhiệt, thông phổi giải uất Đơn thuốc chính: Bột bổ âm tán, ví dụ: Yinhua l0g, Forsythia l0g, Platycodon 6g. , 6g cam thảo sống, 10g ngưu bàng, 10g thương truật, 10g diếp cá, 10g hà thủ ô, 6g bạc hà, 10g sài hồ, 10g hạnh nhân. Điều chế: Nếu nội nhiệt quá nóng thì thêm 20g thạch cao và l5g diếp cá để thanh phổi, nếu ho nhiều đờm thì thêm l0g cephalopectin và l0g vỏ dâu để giảm ho, giảm đờm; nếu đau tức ngực nhiều thì thêm. 15g gualoupi và nghệ 10g, đào nhân 10g, để làm ẩm phổi và giải đờm. (2) Các triệu chứng chính của giai đoạn carbuncle: sốt và ớn lạnh, đau ngực, ho và nôn ra đờm, vàng xanh, có mùi tanh trong cổ họng, ho, khó thở, khô miệng, khó chịu, vã mồ hôi và nóng. . Lớp phủ lưỡi vàng và nhờn, mạch trơn. Cơ chế bệnh sinh: nhiệt độc làm co phổi, huyết ứ trở thành mụn nhọt Phương pháp điều trị: thanh nhiệt giải độc, thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng trừ ứ huyết. Công thức chính: Thuốc sắc Qianjin Weishen đã điều chế và trừ trừ Ví dụ: rễ cây sậy tươi 30g, rau dền sống 30g, hạt mướp đông 10g, đào nhân 10g, hà thủ ô 6g, cam thảo sống 6g, cây nho đỏ 30g, cây diếp cá l5g, hoa bạc đầu l0g. Bổ âm, trừ thấp: Đối với những người huyết nhiệt mạnh, thêm Địa cốt bì 10g, Địa cốt bì 6g, Sơn chi 10g, Địa cốt thảo 10g, Thạch cao 30g, để thanh hỏa, thanh lọc phổi; trị ho nhiều, đờm đục, nhiều đờm, không nằm được. xuống, Thêm l0g Tinglizi để làm dịu phổi và đục. (3) Triệu chứng chính của giai đoạn loét: ho và nôn ra nhiều đờm mủ lẫn máu, hoặc như cháo loãng, mùi tanh bất thường, tức ngực đầy tức, người nóng bừng, mặt đỏ bừng, mệt mỏi, chán ăn. , hoặc khó nằm thẳng do hen suyễn. Bộ lông màu vàng và nhờn, mạch trơn. Cơ chế bệnh sinh: nhiễm trùng huyết, thối thịt, lở loét mụn mủ Phép trị: tiêu độc, thanh nhiệt, giải độc Đơn thuốc chính: Bổ trung ích khí, bổ tỳ ích vị: Platycodon grandiflorum 10g, cam thảo sống 6g, dền sống 30g, diếp cá l0g, màu đỏ cam. l0g, 15g hoa bạc, 3g bột bạch chỉ (đỏ), 15g lá mã đề, 15g hoa hòe, 30g diếp cá.Bổ, trừ: thêm 15g thương truật, 10g thương truật cho người thanh nhiệt, thanh nhiệt giải độc; nếu di tinh thì thêm 10g trạch tả, 12g hải quỳ, để dưỡng âm, thanh nhiệt; nếu vết thương sưng tấy. khô và đỏ, có thể thêm 15g khổ sâm và 15g hoa hòe, 10g hoa hòe, để dưỡng âm, sinh dịch cơ thể; nếu thiếu khí, thường xuyên ra mồ hôi trộm, không ra được mủ, có thể thêm 30g xương cựa vào. tăng cường khí và xả mủ[2]. (4) Các triệu chứng chính của thời kỳ hồi phục: thân nhiệt giảm dần, ho thuyên giảm, đờm mủ cũng giảm dần. Triệu chứng kèm theo: ① hoặc các triệu chứng đỡ dần, đờm loãng hơn, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, đau hạ sườn không khỏi. Chất lưỡi hơi đỏ, niêm mạc mỏng, mạch đập mỏng. Cơ chế bệnh sinh: Âm tổn tiêu khí, chính tà, yêu tà. Phương pháp điều trị: dưỡng khí, dưỡng âm, dưỡng phổi, bài thuốc chính: bổ phế, bổ phế Thanh diệp, các đơn thuốc: 15g Hoàng bá, 10g Địa cốt bì, 15g Hoàng bá, 6g Xương rồng thô, 10g Bạch truật, 6g cam thảo, 15g rễ xương cựa thô, hạt bí đao l5g, Albizia julibrissin l5g. Triệu chứng kèm theo: ② hay ho và khạc, lượng đờm ít, lâu ngày không sạch đờm, đờm vừa sạch lại chuyển sang có mùi hôi, tình trạng lúc nhẹ lúc nặng, kéo dài không lành, nóng ran. , khó chịu, khô miệng và cổ họng, đổ mồ hôi ban đêm, sốt nhẹ và mệt mỏi Hoặc đổ mồ hôi tự phát, khó thở và bơ phờ. Chất lưỡi đỏ, mỏng, mạch trống không, mạch sác. Hoặc chất lưỡi đỏ nhạt, tráng mỏng, mạch mỏng và yếu. Cơ chế bệnh sinh: Âm hư dương khí suy kiệt độc tố Phương pháp điều trị: bổ trung ích khí, dưỡng âm thanh nhiệt, thông huyết thang. Đơn thuốc chính: Platycodon grandiflorum và nước sắc hạnh nhân. Đơn thuốc: Platycodon grandiflorum l0g, cam thảo nguyên 6g, hạnh nhân l0g, diếp xoăn l0g, Prunella vulgaris 12g, Fructus Aurantii 10g, Hoa bạc 15g, Nho đỏ 15g, Hoa hòe 15g, Ô rô 12g, và Hạt Ejiao 10g. Bổ âm, trừ thấp: Đối với trường hợp sốt thấp, có thể thêm 10g lá sài đất, 30g trạch tả, 15g bạch truật, 12g sơn chi, dưỡng âm, thanh nhiệt; đối với người táo bón, phân lỏng thêm 12g thương truật, 15g Poria và 10g khoai mỡ Trung Quốc để tăng cường sinh lực cho lá lách. Nếu ho, khạc ra máu lâu ngày không trong sạch, có thể gia thêm l0g bọ cạp trắng để thanh nhiệt, giải độc để trị chứng tỳ vị hư hàn;


1.3 Phân tích thống kê Sử dụng phần mềm spss19.0 để thực hiện xử lý thống kê trên dữ liệu lâm sàng Tất cả dữ liệu đo lường lâm sàng được kiểm tra bằng u, và dữ liệu dữ liệu được thể hiện bằng phương tiện và độ lệch chuẩn. P <0,05 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.


2 Phân tích so sánh kết quả Đánh giá triệu chứng đau ngực và sốt của bệnh nhân trước và sau khi điều trị bằng phương pháp Trung Quốc và Tây y kết hợp được sử dụng. Sau điều trị được chia thành 23,45-3,25 Điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn đáng kể so với trước điều trị., p <0,05, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân trước khi điều trị là 35,75-3,45 và điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân được điều trị là 25,55-2,25. Điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn đáng kể so với trước khi điều trị, p <0,05, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.


3 Bàn luận Công dụng lâm sàng của tây y để điều trị áp xe phổi chủ yếu là dùng thuốc kháng sinh để ức chế sự phát triển của các chủng virut, được y học cổ truyền Trung Quốc bổ sung để thanh nhiệt, giải độc, tiêu ứ huyết, tiêu thũng, điều trị dứt điểm phổi là dựa trên nguyên lý loại bỏ mầm bệnh. Áp dụng phương pháp điều trị thanh nhiệt, giải độc, tiêu huyết ứ, tiêu mủ. Việc điều trị sớm và điều trị kịp thời là điều kiện tiên quyết để điều trị thành công bệnh lác đồng tiền. Các ổ mủ cần được tập trung làm sạch phổi để đào thải bã đậu, mủ đã thành mủ cần phải dẫn lưu mủ và giải độc. Phương pháp cụ thể có thể được điều trị riêng biệt tùy theo các giai đoạn khác nhau của quá trình phát sinh bệnh. Đôi khi có sự kết hợp giữa nguyên phát và thứ phát. Điều trị ban đầu là làm sạch phổi và tiêu độc; trong giai đoạn kết hạch thì điều trị là khỏi thanh nhiệt, giải độc, tiêu huyết ứ, tiêu thũng; trong giai đoạn có mủ nên thông phổi, thanh nhiệt, giải độc; trong thời kỳ phục hồi, những người suy giảm âm khí thích hợp để bổ khí, dưỡng âm, bổ phổi. . Trong tất cả các phương pháp điều trị mụn nhọt ở phổi luôn phải chạy qua chữ “Thanh”, trước khi hình thành mủ thì dùng cây bìm bịp liều lượng để tiêu trừ mụn nhọt, sau khi hình thành mủ thì phải hút sạch mủ và giải độc. sửa. Tuy thời kỳ phục hồi thuộc tà hư thiếu dương và tổn thương âm khí bên trong, cần đề phòng các loại độc khác, nhất là tà yêu là dương thiếu, nhiễm trùng huyết không kiệt, thiếu và thực lẫn lộn, cần đề phòng. khỏi tái phát trở thành mãn tính. Dùng sản phẩm thanh nhiệt, giải độc, tiêu mủ ở các vị thuốc bổ tức là kết hợp giữa thanh nhiệt và bổ huyết.Trong suốt quá trình điều trị, cần chú ý giữ cho phân không bị chướng, vì phổi và ruột già thông với nhau, phân sẽ không làm cho các tạng bị nhiệt, làm cho phổi khí được. được giảm bớt, và có thể hóa giải được tà nhiệt và độc tố.[3].


Nghiên cứu trường hợp của 22 bệnh nhân trong nhóm này cho thấy phân tích so sánh các triệu chứng đau ngực và sốt trước và sau khi điều trị bằng phương pháp Trung Quốc và Tây y kết hợp được sử dụng. Đánh giá các triệu chứng đau ngực của bệnh nhân trước khi điều trị được chia thành 37,75-4,55, và đánh giá của bệnh nhân sau điều trị được chia thành 23,45-3,25, điều trị Điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn có ý nghĩa thống kê p <0,05 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân trước khi điều trị là 35,75-3,45 và điểm đánh giá các triệu chứng sốt của bệnh nhân được điều trị là 25,55-2,25. Điểm đánh giá sau điều trị thấp hơn đáng kể so với trước khi điều trị, p <0,05, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nó cho thấy việc sử dụng tổng hợp y học cổ truyền đông y và tây y để điều trị áp xe phổi có hiệu quả và cải thiện hiệu quả các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân thông qua việc phân biệt các triệu chứng và bệnh của thuốc bắc và điều trị bằng thuốc kháng sinh của tây y.


Chúc các bạn đọc tin ban xep hang bong da vui vẻ!

Original text